RSS

Đàm Luận Phật Pháp (Bài 7) – Hỏi Đáp ly kỳ

28 Aug

Giới thiệu:

Các câu hỏi sau đây rất thú vị, xin mời các bạn nghe thầy Nguyên Hải giải đáp.

Hỏi: Thái độ sống theo trí tuệ và thái độ sống theo tham ái khác nhau ở chỗ nào?

Hỏi: pháp tu quán âm của Phật là như thế nào, khác với pháp quán âm khác?

Hỏi: đọc kinh sách Đại Thừa nói Pháp Thân Phật thấy khó hiểu quá, xin ông hãy giảng cho rõ dùm tôi.

Hỏi: Em đọc sách Phật giáo nói “lấy bịnh khổ làm thuốc  thần” là sao hỡi thầy? Sao thấy trái với khoa học vậy?

Hỏi: Từ Bi và Trí Tuệ thì có được hạnh phúc không?

Hỏi: ông thường nói với các tín đồ Ki-tô rằng: “Bất cứ ai tuyên bố đã gặp Thượng Đế (God) thì kẻ đó hoặc NGU hoặc BA XẠO.” Ông giải thích thêm?

Hỏi: THÁNH NHÂN chỉ là Thánh nhân khi tất cả mọi phiền não đã được tẩy rửa. Dù chỉ còn một tí ti phiền não, vẫn CHƯA PHẢI LÀ THÁNH NHÂN. Vì thế, khi tâm không trong sạch, không ai có thể được gọi là THÁNH NHÂN. Còn gì nữa?

Hỏi: em thường hay giận hờn, trách móc bản thân và người khác. Anh có lời gi khuyên gì?

Hỏi: nghĩa chính xác của từ “Chánh” trong Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Định, Chánh Niệm là gì?

Hỏi: anh giải thích như thế nào về nhịp độ sinh học trong Phật học?

Hỏi: Phải chăng trong cuộc sống người từ bi là người thiệt thòi? Hỏi thêm: từ bi như thế nào mới gọi là Đại Từ Bi? Sao có người nói A la hán làm mất hạt giống Phật?

Hỏi: Tôi đọc cả ngàn trang sách Phật. Xin tóm tắt giáo pháp Phật?

Hỏi: Anh nói rằng pháp Tứ Niệm Xứ là dành cho dân Nguyên Thủy lẫn dân Đại Thừa, anh có bằng chứng gì không?

Hỏi: Chữ Phật Tánh trong Kinh Nguyên Thủy có không?

 ooOoo

Hỏi: Thái độ sống theo trí tuệ và thái độ sống theo tham ái khác nhau ở chỗ nào?

Đáp:

Người TRÍ TUỆ phải luôn luôn yêu quí SỰ THẬT phải yêu thích giảng nói về ĐẠO SỰ THẬT vì hầu hết chúng sanh chỉ sống theo THAM ÁI mà bị ĐAU KHỔ. Cũng như khi một người đến đòi NỢ ta với giẩy tờ chứng minh đàng hoàng, thì người sống theo THAM ÁI chắc chắn là bực mình với ông ta. Vì không muốn bị mất tiền. Trái lại với người có TRÍ TUỆ thì sẽ vui vẻ tiếp đón ông ta vì đó là SỰ THẬT. Phải cám ơn ông ta vì ông ta đã cho mình mượn tiền trong cơn túng bấn. Thái độ sống theo THAM ÁI và sống theo TRÍ TUỆ (SỰ THẬT) là khác nhau như vậy đó.

Một ví dụ khác, khi một người bắt gặp CHỒNG hay VỢ ngoại tình. Người sống theo THAM ÁI thì rất KHỔ ĐAU vì biết SỰ THẬT đó. Trái lại với người có TRÍ TUỆ thì phải VUI MỪNG vì đã khám phá ra SỰ THẬT đó, để mình không tiếp tục lầm lẫn lấy một người XẤU XA, KHÔNG XỨNG ĐÁNG.

Nói chung chung, khi gặp một hoàn cảnh bất hạnh xảy ra. Với một người sống theo THAM ÁI thì thế nào cũng BUỒN KHỔ. Nhưng với người đã GIÁC NGỘ SỰ THẬT NHÂN QUẢ: CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH thì chuyện xảy ra chỉ là một SỰ THẬT. NHÂN đã như vậy, DUYÊN đã như vậy, thì QUẢ phải như vậy. Không có lý do gì để phiền trách SỰ THẬT cả.

Cho nên cái câu nói: CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH Có SỨC CỨU KHỔ mạnh hơn bất cứ một THƯỢNG ĐẾ nào. Bởi thế các ngài XÁ LỢI PHẤT và MỤC KIỀN LIÊN khi nghe được câu đó liền bỏ ngay THƯỢNG ĐẾ của BÀ LA MÔN GIÁO

để đi tìm ĐỨC PHẬT mà xin qui y.

Hỏi: pháp tu quán âm của Phật là như thế nào, khác với pháp quán âm khác?

Đáp:

QUÁN ÂM của PHẬT là QUÁN VÀO CĂN CỦA SỰ NGHE, tức đi tìm NGUYÊN NHÂN TẠI SAO TA NGHE ĐƯỢC? Điều này không khác gì một KHOA HỌC GIA khi nghiên cứu về sự NGHE và kết luận NGHE là do ÂM THANH làm RUNG MÀN NHĨ. Tuy nhiên kết luận đó chưa tìm đến TẬN GỐC, vì trong GIẤC MƠ ta cũng có SỰ NGHE mà thật chẳng có ÂM THANH nào để làm RUNG MÀN NHĨ. Pháp TU của PHẬT luôn luôn nặng về TRÍ TUỆ không nặng về THAM ÁI. TU HÀNH theo pháp PHẬT không khác gì sự cặm cụi nghiên cứu của các KHOA HỌC GIA muốn TÌM HIỂU VỀ CHÍNH TA, không mong ĐẠT ĐƯỢC gì cho TA. Trái lại tìm cho ra THỰC TƯỚNG của TA. TA là gì? TA ở đâu mà có SỰ NGHE? sự THẤY?, sự NIỆM (PHẬT)?, v.v.. Thiền tông gọi là kiếm cho ra cái “ÔNG CHỦ”.  Chừng nào thấy được cái “KHÔNG TÁNH” của ÔNG CHỦ, tức “VÔ NGÔ rồi, thì được GIẢI THOÁT ra khỏi BẢN NGà nên không còn lo chi bị KHỔ nữa. Thấy được cái KHÔNG TÁNH đó là thấy được “PHẬT TÁNH” mà chúng sanh nào cũng có. Khi thấy được rồi thì gọi là đã KIẾN TÁNH. Hạnh Phúc của sự HẾT KHỔ (NIẾT BÀN) là TỐI ƯU TỐI THƯỢNG, hơn ĐẠT được bất cứ loại HẠNH PHÚC TẠM BỢ nào trong thế gian này. Hạnh phúc của sự HẾT KHỔ (tức NIẾT BÀN) cũng như hạnh phúc của một người HOÀN TOÀN LÀNH BỆNH. Còn tất cả những loại HẠNH PHÚC ĐẠT ĐƯỢC DO THAM ÁI thì cũng như sự ĂN CHƠI của một người CÒN BỆNH (chưa HẾT KHỔ). Những HẠNH PHÚC do THAM ÁI dầu ĐẠT ĐƯỢC cũng chỉ TẠM BỢ và HỨA HẸN KHỔ ĐAU vì sẽ có sự TIẾC NUỐI do MẤT MÁT không sớm thì muộn. MẤT MÁT xảy ra vì có sự NƯƠNG TỰA trên 6 TRẦN: SẮC, THANH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, hoặc PHÁP (Ý TƯỞNG) toàn là những thứ không BỀN VỮNG.

“TRONG NGHE chỉ có SỰ NGHE, TRONG THẤY chỉ có SỰ THẤY”. Đó là cách QUÁN mà PHẬT đã dạy để giữ THÂN TÂM luôn THANH TỊNH để TRÍ TUỆ luôn SẮC BÉN, để sẽ GIÁC NGỘ “CĂN” của sự NGHE sự THẤY là gì. Dầu THẤY gì NGHE gì đi nữa người TRÍ TUỆ cũng không nên THAM ÁI, DÍNH MẮC vào các TRẦN CẢNH VÔ THƯỜNG.

Cho nên nói chung, các PHÁP TU do THAM AÍ mong ĐẠT được những MẦU NHIỆM, kể cả mong LÊN CỎI TRỜI, không phải là pháp tu xứng đáng cho người TRÍ TUỆ theo đuổi, vì không đưa đến NIẾT BÀN ĐÍCH THỰC. Không đưa đến sự TẬN DIỆT KHỔ ĐAU. Đó là lý do KINH BÁT NHà bảo “KHÔNG CHỨNG cũng KHÔNG ĐẮC”. ĐẮC CHỨNG của ĐẠO PHẬT là “VÔ NGÔ mà đã VÔ NGà rồi thì AI CHỨNG? AI ĐẮC? Cho nên người tu phải lấy MỤC TIÊU HẾT KHỔ (NIẾT BÀN) làm căn bản mới có thể hiểu được MỤC ĐÍCH của ĐẠO PHẬT. TU không phải để ĐẠT ĐƯỢC gì hết, không phải để thỏa mãn lòng THAM ÁI hoặc sự CẦU MONG. Vì làm vậy là vẫn duy trì NGUYÊN NHÂN của SỰ KHỔ. Mong rằng tất cả các THIỆN HỮU nắm vững được MỤC TIÊU của sự TU HÀNH. Thân Ái.

Hỏi: đọc kinh sách Đại Thừa nói Pháp Thân Phật thấy khó hiểu quá, xin ông hãy giảng cho rõ dùm tôi.

Đáp:

Như năng lượng, năng lực (energy) ở mọi góc trời nào cũng coi như đã có sẵn. Khi đủ NHÂN DUYÊN thì năng lượng, năng lực đó có thể trở thành VẬT CHẤT (mass). Cũng vậy, ở bất cứ nơi đâu khi hội đủ ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN thì một chúng sanh với BÁO THÂN đã “tròn đầy” TRÍ TUỆ, TỪ BI thì thành PHẬT. Cái NĂNG LỰC để THÀNH PHẬT ở KHẮP NƠI đó, gọi là PHÁP THÂN PHẬT, có tên gọi là TỲ LÔ GIÁ NA cũng đồng nghĩa với “THÂN HƯ KHÔNG”, bao trùm cả VŨ TRỤ. Bạn hiểu nổi ý nghĩa này chăng?  Vì trong mỗi chúng sanh, ở bất cứ nơi đâu,  cũng đã có sẵn năng lực “HƯ KHÔNG” đó nên mới nói mọi chúng sanh đều có PHẬT TÁNH. Khi NHÂN DUYÊN đầy đủ thì chúng sanh nào cũng có thể THÀNH PHẬT. Cũng như một hạt mầm đã có sẵn đến khi MƯA, NẮNG thuận hòa thì bắt đầu trổ. Nhưng nói “HẠT MẦM” là để cho những đầu óc “BÌNH DÂN” dễ hiểu vậy thôi, chứ HẠT MẦM đó chính là “KHÔNG TÁNH” là “VÔ NGÔ thì phải biết “KHÔNG CÓ GÌ HẾT”. Cái “KHÔNG” đó ở đâu lại không “CÓ”. Đến đây là đã bắt đầu có sự kết nối giữa “KHÔNG” và “CÓ”, SẮC=KHÔNG rồi bạn thấy chưa? Ai còn chấp PHÂN BIỆT TRÍ thì không hình dung nổi cái “CHƠN KHÔNG”, VÔ NGà (KHÔNG mà không phải KHÔNG) này đâu. Cho nên phải hiểu BÁT NHà trước, phải hiểu VÔ NGÃ, phải hiểu KHÔNG TÁNH trước, mới khỏi bị HIỂU LẦM một cách TAI HẠI khi nghe về PHÁP THÂN PHẬT. Tất cả những ai chưa đắc chứng BÁT NHà thì khi nghe những vấn đề PHÁP THÂN, TỲ LÔ GIÁ NA, rất dễ NHẬP NHẰNG với THƯỢNG ĐẾ. Đó là lý do nhiều người dầu cho mình là PHẬT TỬ, vẫn chưa gột sạch được TÀ KIẾN THƯỢNG ĐẾ, vẫn thỉnh thoảng nói đến THƯỢNG ĐẾ. Nếu đã CHỨNG NGỘ được BÁT NHà thì không còn CHẤP THỦ, không còn CHẤP HỮU (cả cái TA của mình), và DỨT KHOÁT không còn chuyện THƯỢNG ĐẾ TÀO LAO.

Đó là lý do KINH SÁCH của CHƯ PHẬT và CHƯ BỒ TÁT từ xưa nay đều xác định rõ ràng: THƯỜNG KIẾN là TÀ KIẾN. Ai còn rao giảng nói năng về THƯỢNG ĐẾ thì đối với PHẬT GIÁO vẫn bị coi như rao giảng TÀ ĐẠO, chưa nắm vững GIÁO LÝ của PHẬT, chưa xứng đáng để cho PHẬT TỬ đi theo. Thiền của ĐẠO ÔNG TÁM, LƯƠNG SĨ HẰNG, THANH HẢI VÔ THƯỢNG SƯ cũng được kể như vậy. Mặc dầu cũng có phần nào lợi ích HẤP DẪN cho giới BÌNH DÂN, mặc dầu ông ta cũng có nói đến PHẬT rất nhiều. 

Hỏi: Em đọc sách Phật giáo nói “lấy bịnh khổ làm thuốc  thần” là sao hỡi thầy? Sao thấy trái với khoa học vậy?

Đáp:

Đây là 10 điều đầy đủ mà sách nói đến:

1- Lấy bịnh khổ làm thuốc thần,

2- Lấy hoạn nạn làm giải thoát

3- Lấy khúc mắc làm thú vị

4 – Lấy ma quân làm bạn đạo

5- Lấy khó khăn làm thích thú

6- Lấy kẻ tệ bạc làm người giúp đỡ

7- Lấy người chống đối làm nơi giao du,

8- Coi thi ân như đôi dép bỏ,

9- Lấy sự xả lợi làm vinh hoa

10- Lấy oan ức làm cửa ngõ đạo hạnh

Về câu 1- Lấy bịnh khổ làm thuốc thần

Đã đặt ra nguyên tắc CHỦNG NGỪA cho ngành Y KHOA đó bạn. CHỦNG NGỪA chính là làm cho ta bị nhiểm bệnh (nhẹ) để cơ thể tạo ra kháng thể mà chống chọi được với bệnh hoạn nặng sau này. Như vậy đúng là lấy BỆNH KHỔ làm THUỐC THẦN chứ còn gì nữa. Bạn đã thấy PHẬT có TRÍ TUỆ đáng nể chưa? Ngài thật quá xứng đáng là NHÀ KHOA HỌC VĨ ĐẠI của chúng ta.

Hỏi: Từ Bi và Trí Tuệ thì có được hạnh phúc không?

Đáp:

Nhớ rằng, mọi HẠNH PHÚC THAM ÁI của THẾ GIAN dầu ĐẠT ĐƯỢC vẫn HỨA HẸN ĐAU KHỔ. Nhưng có 2 THỨ HẠNH PHÚC KHÔNG HỨA HẸN KHỔ ĐAU: Đó là HẠNH PHÚC CỦA TRÍ TUỆ và HẠNH PHÚC CỦA TỪ BI. Hạnh phúc của TRÍ TUỆ là sự sung sướng khi mình được hiểu biết thêm, như sự “SAY SƯA” của ông BÁC HỌC trong phòng thí nghiệm. HẠNH PHÚC CỦA TỪ BI như sự sung sướng khi ta làm được một việc TỐT cho người một cách VÔ VỊ LỢI, không có tâm THI ÂN (để khỏi trách móc phiền muộn về sau). TU HÀNH phải có sự PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ và TỪ BI. Phải tiến đến TRÍ TUỆ hiểu rõ KHỔ và NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ KHỔ cùng tất cả các PHƯƠNG THỨC chấm dứt các NGUYÊN NHÂN ấy. Ai TU HÀNH mà chỉ cầu AN VUI không thôi thì chẳng khác kẻ đi LÀM GIÀU, dầu có thành công vẫn có ngày bị ĐAU KHỔ vì VẠN PHÁP VÔ THƯỜNG.

Hỏi: ông thường nói với các tín đồ Ki-tô rằng: “Bất cứ ai tuyên bố đã gặp Thượng Đế (God) thì kẻ đó hoặc NGU hoặc BA XẠO.” Ông giải thích thêm?

Đáp:

“Bất cứ ai tuyên bố đã gặp GOD thì kẻ đó hoặc NGU hoặc BA XẠO.”

Vì sao?

— Vì không ai có thể CHỨNG MINH được ta đây là Thượng Đế! Nếu người ta không thể CHỨNG MINH được mà mình cứ tin bừa thì không phải NGU là gì! người THÔNG MINH đâu có dễ gì chấp nhận chuyện chưa được chứng minh.

Tại sao không ai có thể chứng minh được TA đây là Thượng Đế?

— Vì muốn chứng minh được TA LÀ Thượng Đế thì phải chứng minh, giải thích được khả năng sinh ra VŨ TRỤ. Nhưng VŨ TRỤ đã đang hằng hữu rồi thì sinh ra được cái KHỈ gì nữa cưng? Không lẽ muốn làm cho VŨ TRỤ tiêu hoại để sinh nó trở lại chăng? Nếu tiêu hoại rồi thì còn ai để chứng kiến  cho sự  minh chứng đó được. Cho nên  Không có cách nào, tuyệt đối không có cách (THERE IS NO WAY! ABSOLUTELY NO WAY!) để chứng minh TA LÀ Thượng Đế. Phương chi trong THÁNH KINH có chỗ nào MOSES kể về sự  CHỨNG MINH của Thượng Đế chưa? Người ta chưa chứng minh mà mình cứ tin bừa thì không phải là KẺ ĐẠI NGU thì còn là gì nữa!

Cho nên, đây là lời cuối ta khuyên CƯNG: Nếu CƯNG muốn thực sự đi tìm CHÂN LÝ, nếu CƯNG muốn đừng bị ai PHỈNH PHỜ, thì bất cứ cái gì mà CƯNG chưa hề thấy, thì hãy KHOAN TIN. TA không khuyên cưng vội VẤT BỎ, nhưng đừng vội CHẤP NHẬN khi chưa được tự mình THẤY hay có sự  CHỨNG MINH rõ ràng. Cách hay nhất và trước hết, là từ đây HÃY TẬP SỐNG VỚI SỰ THẬT. CÁI GÌ MÌNH CHƯA HỀ THẤY CÓ, THÌ KHOAN NÓI CÓ. Nếu CƯNG sống được như vậy thì CƯNG sẽ không bao giờ bị phí công đi tìm cái KHÔNG CÓ một cách VÔ VỌNG. Và cũng sẽ không ai có thể dễ LỪA ĐẢO được CƯNG nữa mô.

Hỏi: THÁNH NHÂN chỉ là Thánh nhân khi tất cả mọi phiền não đã được tẩy rửa. Dù chỉ còn một tí ti phiền não, vẫn CHƯA PHẢI LÀ THÁNH NHÂN. Vì thế, khi tâm không trong sạch, không ai có thể được gọi là THÁNH NHÂN. Còn gì nữa?

Đáp:

Bạn  nói không sai, nhưng có điểm rất SÂU SẮC mà bạn có thể chưa nghĩ tới:

Theo bạn, TÂM nào là TÂM KHÔNG TRONG SẠCH? TÂM đó có thuộc vào NGỦ UẨN không?

— Nếu thuộc ngũ uẩn, thì NGỦ UẨN VÔ THƯỜNG làm sao giữ nó KHÔNG THAY đổi, dầu DƠ hay SẠCH?

— Nếu không thuộc ngũ uẩn, thì nó không thuộc SẮC, không thuộc THỌ, không thuộc TƯỞNG, không thuộc HÀNH, không thuộc THỨC, thì làm sao nó có thể bị BỢN NHƠ để cần TẨY RỬA?

Hỏi: em thường hay giận hờn, trách móc bản thân và người khác. Anh có lời gi khuyên gì?

Đáp:

BẤT CỨ GÌ ĐÃ XẢY RA thì cưng phải biết nó có LÝ DO mới có thể xảy ra được. Nó xảy ra được vì nó có LÝ NHẤT. Cách khác không xảy ra được vì cách khác không đủ lý hơn nó để xảy ra. Hiểu được như vậy thì cưng đừng ĐAU KHỔ vì bất cứ chuyện gì xảy ra, cho dù cưng không vừa ý. Hãy chấp nhận đó là SỰ THẬT PHẢI XẢY RA, cũng như MƯA hay NẮNG ngày hôm nay vậy thôi.  Cho dù đối với cưng là một chuyện VÔ LÝ khó chấp nhận, nhưng người ta căn cơ đã NGU từ lâu nay rồi, thì làm sao có thể không làm SAI, mà cưng đòi hỏi người ta phải làm ĐÚNG. Nếu cưng cứ GIẬN HỜN trách móc người ta thì cưng chỉ tự mua cái KHỔ cho mình thôi.

Hỏi: nghĩa chính xác của từ “Chánh” trong Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Định, Chánh Niệm là gì?

Đáp:

Trước hết chữ CHÁNH có nghĩa là nhắm đúng đến mục đích NIẾT BÀN, CHẤM DỨT SỰ KHỔ, tức là VÔ NGÃ. Nếu SAI khỏi mục tiêu đó thì gọi là TÀ. Cho nên: CHÁNH KIẾN là những sự THẤY, hay sự HIỂU BIẾT có khả năng hổ trợ cho sự GIÁC NGỘ VÔ NGÃ. CHÁNH TƯ DUY là những sự SUY NGHĨ, tư duy, hổ trợ cho sự GIÁC NGỘ VÔ NGÃ. CHÁNH NIỆM là sự quan sát (TỨ NIỆM XỨ) có khả năng đưa đến sự GIÁC NGỘ VÔ NGÃ CHÁNH ĐỊNH danh từ này để phân biệt với cái loại TÀ ĐỊNH là những thứ  ĐỊNH của NGOẠI ĐẠO, dầu có thể đạt thần thông, nhưng không đưa đến sự GIÁC NGỘ VÔ NGÃ để GIẢI THOÁT. CHÁNH ĐỊNH còn có nghĩa là trạng thái AN ĐỊNH của một bậc đã đạt VÔ NGÃ, không còn một cái NGẪ để bị lung lay.

Hỏi: anh giải thích như thế nào về nhịp độ sinh học trong Phật học?

Đáp:

Cái mà thiên hạ gọi là “NHỊP ĐỘ SINH HỌC” chẳng qua là cái THỨC của pháp giới mà thôi. PHẬT đã chỉ rõ. HÀNHà THỨC. Hể ai đã hành động như vậy, nhất là có sự lặp đi lặp lại, thì nó sẽ sinh ra một QUÁN TÁNH gọi là THỨC. Thiền quán TỨ NIỆM XỨ mới khám phá ra được mọi chuyện “ràng buộc” trên thế gian này đều do THỨC mà ra. Đó cũng là nguyên nhân của ĐAU KHỔ đó. Nếu không có THỨC thì chúng sanh chẳng có chuyện THƯƠNG, NHỚ, rồi “ƯỚT MI” thút thít đâu.

Tất cả mấy cái đó thật ra chỉ là BẢN CHẤT của PHÁP GIỚI xảy ra một cách tự nhiên theo HÀNH của nó và đều VÔ NGÃ. Khi đã giác ngộ mọi BUỒN VUI cũng VÔ NGÃ thì có thể GIẢI THOÁT ngay trong ĐAU KHỔ. NIẾT BÀN là như vậy đó em thương.

Hỏi: Phải chăng trong cuộc sống người từ bi là người thiệt thòi? Hỏi thêm: từ bi như thế nào mới gọi là Đại Từ Bi? Sao có người nói A la hán làm mất hạt giống Phật?

Đáp:

Người TỪ BI là người thấy it lỗ nhất chứ! Vì cái MẤT của mình là cái ĐƯỢC cho chúng sanh, nên có lỗ gì đâu. Như một người mẹ thương con, cho con tiền đâu thấy lỗ. Họa chăng chỉ với mẹ không thương con mới thấy lỗ. Càng thương thì càng ít thấy lỗ. Với tâm TỪ BI cũng như thế, càng TỪ BI càng ít thấy lỗ.

Nhưng TỪ BI phải có VÔ NGÃ mới thiệt là TỪ BI đó nha. Nếu còn BẢN NGÃ thì TỪ BI chỉ là một thứ TRANG ĐIỂM cho BÃN NGÃ mà thôi. Nhiều khi chỉ vì BẢN NGÃ muốn có một lý tưởng cao đẹp cho nó, mới chọn TỪ BI. Nhưng bản chất của TỪ BI đó là TỪ BI cho BẢN NGÃ. Loại TỪ BI này ta thấy rất nhiều ở những người  còn THAM, SÂN, SI, mà đã xưng danh là BỒ TÁT ĐẠI THỪA rồi chê bai các đồng đạo là những kẻ TIỂU THỪA.

Rồi những bạn ĐẠI THỪA này mới có sự chê bai một cách ngu si rằng các vị A LA HÁN là những kẻ ích kỷ làm “TIÊU NHA BẠI CHỦNG” hạt giống của PHẬT. Nói thẳng các bạn quá sai lầm nên đã không biết rằng chúng ta ngày nay còn biết được PHẬT, PHÁP, TĂNG cũng nhờ các ngài A LA HÁN đã kết tập kinh tạng để lại cho đời sau để hạt giống PHẬT không bị mất đi. Các ngài là các bậc VÔ NGÃ nên mới thật sự là những bậc có khả năng thực hành hạnh TỪ BI BA LA MẬT (vô bờ bến) của một BỒ TÁT ĐẠI THỪA. BỒ TÁT ĐẠI THỪA này mới là BỒ TÁT ĐẠI THỪA thật, không phải là thứ Bồ Tát của những người phàm phu.

Hỏi: Tôi đọc cả ngàn trang sách Phật. Xin tóm tắt giáo pháp Phật?

Đáp:

Qúi vị có thể đã đọc cả ngàn sách, có thể đã theo cả trăm thầy tổ. Nhưng quí vị đã thực thấy rõ con đường giải thoát của ĐẠO PHẬT chưa? Nếu vẫn chưa thì xin đọc vài hàng ngắn gọn mà tôi tóm tắt lại sau đây. Vài hàng ngắn gọn này sẽ rất quí giá đối với những ai đã miệt mài đi tìm con đường giải thoát, quyết tìm cho được, mà vẫn chưa thấy: 

MỤC ĐÍCH CỦA ĐẠO PHẬT: Là CỨU KHỔ

NIẾT BÀN CỦA ĐẠO PHẬT: Là lúc KHỔ DIỆT TẬN

NGUYÊN DO CỦA SỰ KHỔ: Là do KHÔNG HIỂU RÕ VỀ CHÍNH TA

PHƯƠNG PHÁP CHẤM DỨT KHỔ: Là TÌM HIỂU CHÍNH TA.

Phải khách quan quan sát tìm hiểu chính ta bất chấp nó TỐT hay XẤU, bất chấp nó là THÁNH hay PHÀM. Quan sát tìm hiểu cho đến lúc khám phá và thực nghiệm THỰC TƯỚNG VÔ NGÃ của nó: THÂN VÔ NGÃ, THỌ VÔ NGÃ, TÂM VÔ NGÃ, PHÁP VÔ NGÃ (NGỦ UẨN GIAI KHÔNG). Đó chính là sự thực hành TỨ NIỆM XỨ, pháp mà ĐỨC PHẬT đã khẳng định là CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT để đi đến NIẾT BÀN.  

Nếu quí vị không làm đúng như trên thì đường tu của quí vị chắc chắn sẽ còn mênh mông vô định. Nhất là sau khi chết rồi mà vẫn chưa thấy rõ đường đạo. Những lời trên không phải viết ra từ cảm tính từ lý luận của tư tưởng mà từ kinh nghiệm thực chứng. Những lời trên khế hợp với kinh sách của PHẬT:

KINH TỨ NIỆM XỨ:

— Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

KINH PHÁP CÚ:

153. Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng chẳng gặp,

Người xây dựng nhà này,

Khổ thay, phải tái sanh.

154. Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi!

Người không làm nhà nữa.

Ðòn tay ngươi bị gẫy,

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta đạt tịch diệt,

Tham ái thảy tiêu vong.

KINH BÁT NHÃ:

Bồ Tát QUÁN TỰ TẠI

Khi QUÁN CHIẾU thâm sâu

TRÍ TUỆ để GIẢI THOÁT

Bổng soi thấy 5 UẨN

(5 Thành phần của Ta,

SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC)

Tất cả đều là KHÔNG.

Chứng thực điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi KHỔ ĐAU ách nạn.

Kính chúc quí vị tu học thành công ngay trong kiếp sống này.

Thân ái.

Hỏi: Anh nói rằng pháp Tứ Niệm Xứ là dành cho dân Nguyên Thủy lẫn dân Đại Thừa, anh có bằng chứng gì không?

Đáp:

Từ trước tới nay các bạn Đại Thừa  vẫn cứ khư khư cho rằng TỨ NIỆM XỨ là pháp thiền của NAM TÔNG không phải là pháp của ĐẠI THỪA, chỉ có TỔ SƯ THIỀN của mấy ông TỔ Trung Hoa  mới là pháp thiền của ĐẠI THỪA. Nhưng đó chỉ vì mấy ông TỔ SƯ THIỀN đã làm pháp thiền TỨ NIỆM XỨ của PHẬT bị mai một. Chứ chính ngài LONG THỌ là một vị TỔ lớn nhất của ĐẠI THỪA cũng đã dạy TỨ NIỆM XỨ chứ chả dạy THIỀN CÔNG ÁN bao giờ. Dưới đây là bằng cớ nè các bạn ạ. Nếu bạn mà không trở lại tu cho đúng PHÁP THIỀN TỨ NIỆM XỨ của PHẬT thì chả được một chút tiểu, đại, mảy may nào của PHẬT GIÁO hết. Đây tôi cho bằng chứng: 

LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ

(Mahàprajnàparamitàsatra) – Tác giả: Nàgàrjuna (Long Thọ)

Dịch Phạn ra Hán: Cưu Ma La Thập – Dịch Hán ra Việt: Thích Thiện Siêu

Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam Ấn hành 1997

Tập 3

Cuốn 48

GIẢI THÍCH: PHẨM BỔN NIỆM XỨ THỨ 19

(Kinh Ma ha Bát nhã ghi: Phẩm Quảng Thừa)

(Kinh Ðại Bát nhã ghi: Phần 2, Phẩm Niệm Trú Ðẳng 17)

KINH: Phật bảo Tu bồ đề: Ðại thừa của Bồ tát ma ha tát là bốn niệm xứ. Những gì là bốn? Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát nơi trong nội thân quán theo thân, cũng không có giác tướng về thân, vì không thể có được. Nơi trong ngoại thân, nội ngoại thân quán theo thân, cũng không có giác tưởng về thân, vì không thể có được, siêng tinh tấn nhất tâm, trừ sự tham ưu thế gian. Nội thọ, nội tâm, nội pháp; ngoại thọ, ngoại tâm, ngoại pháp; nội ngoại thọ, nội ngoại tâm, nội ngoại pháp, quán theo pháp, cũng không có giác tưởng về pháp, vì không thể có được, siêng tinh tấn nhất tâm, trừ sự tham ưu thế gian.

Tu bồ đề! Thế nào Bồ tát ma ha tát nơi nội thân quán theo thân? Tu bồ đề! Nếu Bồ tát ma ha tát khi đi biết đi, khi đứng biết đứng, khi ngồi biết ngồi, khi nằm biết nằm, đúng như sở hành của thân, biết như vậy. Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát như vậy nơi nội thân quán theo thân, siêng tinh tấn nhất tâm, trừ sự tham ưu thế gian.

Lại nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát hoặc đến, đi, xem, ngó thường nhất tâm; eo, duỗi, cúi, ngước, mặc y Tăng già lê, cầm giữ y bát, uống ăn, nằm nghỉ, ngồi đứng, ngủ thức, nói năng, im lặng, vào thiền, ra thiền, cũng thường nhất tâm. Như vậy, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát thực hành Bát nhã ba la mật nơi nội thân quán theo thân, vì không thể có được.

Lại nữa, Tu bồ đề! Bồ tát ma ha tát khi nơi nội thân quán theo thân, nhất tâm nhớ nghĩ: Khi thở vào biết thở vào, khi thở ra biết thở ra; khi thở vào dài biết thở vào dài, khi thở ra dài biết thở ra dài; khi thở vào ngắn biết thở vào ngắn, khi thở ra ngắn biết thở ra ngắn; ví như thợ thiết hoặc học trò thợ thiết, dây dài biết dài, dây ngắn biết ngắn; Bồ tát ma ha tát cũng như vậy, nhất tâm niệm tưởng: Khi thở vào biết thở vào, khi thở ra biết thở ra; khi thở vào dài, biết thở vào dài, khi thở ra dài biết thở ra dài; khi thở vào ngắn biết thở vào ngắn, khi thở ra ngắn biết thở ra ngắn. Như vậy, Tu bồ đề! Nơi nội thân quán theo thân. Siêng tinh tấn nhất tâm, trừ tham ưu thế gian, vì không thể có được v.v…(xem đầy đủ theo trích dẫn tbeo thông tin trên)

Hỏi: Chữ Phật Tánh trong Kinh Nguyên Thủy có không?

Đáp:

Danh từ PHẬT TÁNH chẳng qua là cụ thể hóa “KHẢ NĂNG THÀNH PHẬT” của mọi chúng sanh mà PHẬT đã tuyên bố ở trong mọi kinh tạng. Minh bạch hơn cả danh tự PHẬT TÁNH của BẮC TÔNG ngài còn tuyên bố trong kinh tạng NAM TÔNG như thế này:

“Này các Tỷ-kheo,  có sự không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi. Này các Tỷ-kheo, nếu không có cái không sinh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, thời ở đây không thể trình bày sự xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi. Vì rằng, này các Tỷ-kheo, có cái không sanh, không hiện hữu, không bị làm, không hữu vi, nên có sự trình bày xuất ly khỏi sinh, khỏi hiện hữu, khỏi bị làm, khỏi hữu vi.”  (Tiểu Bộ Kinh I, sđd, tr. 382).

Đó là cái mà mọi chúng sanh đều có. Trong kinh tạng BẮC TÔNG có chỗ nào PHẬT tuyên bố PHẬT TÁNH rõ ràng minh bạch như thế không?

Hỏi: Đại thừa nói: chạy theo trần cảnh quên mất mình là sao?

Đáp:

Trong kinh LĂNG NGHIÊM PHẬT có cho một ví dụ rất hay về sự CHẠY THEO TRẦN CẢNH mà quên mất GIÁC TÁNH.

PHẬT đánh một TIẾNG CHUÔNG rồi hỏi ngài A NAN có nghe không?

— Dạ có nghe! ngài A NAN trả lời.

Đến khi tiếng chuông chấm dứt. ĐỨC PHẬT lại hỏi ngài A NAN: Có nghe nữa không?

— Dạ hết nghe rồi!

— Sao lại hết nghe! Phật quở ngài a nan.

Ý PHẬT dạy rằng, sự NGHE (ví cho GIÁC TÁNH) vẫn còn đó chứ chẳng hết. Chính vì sự NGHE vẫn còn nên mới biết được sự YÊN LẶNG. Tuy nhiên vì ngài A NAN chạy theo TRẦN CẢNH, chạy theo ÂM THANH, cho nên khi ÂM THANH hết thì cho rằng sự nghe của mình cũng hết theo. Đó là cái bệnh chung của tất cả chúng sanh quên mất GIÁC TÁNH của mình vì CHẠY THEO TRẦN CẢNH.

Chứ với những ai biết thường sống với GIÁC TÁNH của mình, không bị TRẦN CẢNH lôi cuốn, thì sẽ thấy mình BẤT TỬ trong mọi trường hợp. Vì GIÁC TÁNH KHÔNG SANH KHÔNG DIỆT. Và cách hay nhất để thường sống với GIÁC TÁNH là sự thực hành TỨ NIỆM XỨ, luộn luôn sống trong TỈNH THỨC biết rõ mọi sự biến động của THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP.

Nguyên Hải (GS001) – (Xin vào trang batchanhdao.wordpress.com để xem cập nhật mới nhất của các bài viết)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: