RSS

Sự thật về phương pháp chứng đắc Bát Nhã Ba la mật đa Tâm Kinh

21 Aug

Các đạo hữu thân ái:

Hầu hết các Phật tử Bắc Tông (Đại Thừa) không ai là không biết bài Bát Nhã Tâm Kinh (Tuệ Giải Thoát Tâm Kinh). Đa số các kinh sách Đại Thừa, nhất là các Kinh của tông phái Tịnh Độ đều đính kèm bài kinh quan trọng này khi in ấn. Các đạo hữu Thiền Tông dựa vào ý của Tâm Kinh để tu hành, các đạo hữu Tịnh Độ Tông cũng thường đọc tụng ngày đêm, công phu sáng trưa chiều tối.  Nhưng khi hỏi cách để “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” ra làm sao thì mấy ai mà trả lời được. Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại đã không nói rõ ràng về phương cách thực hành quán chiếu của ngài, ngài chỉ nói đến kết quả ngài đã đạt được khi thực hành quán chiếu. Đây là khúc mắc cho hầu hết các Phật tử Nam Tông và Bắc Tông.

Bồ Tát QUÁN TỰ TẠI

Khi QUÁN CHIẾU thâm sâu

TRÍ TUỆ để GIẢI THOÁT

Bổng soi thấy 5 UẨN (5 Thành phần của Ta, SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC)

Tất cả đều là KHÔNG.

Chứng thực điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi KHỔ ĐAU ách nạn.

(Đầy đủ bài Kinh này được đính kèm ở phía dưới cùng của bài viết.)

Thế thì ngài Bồ Tát dùng cách gì để quán chiếu ngũ uẩn để thấy bằng TRÍ TUỆ rằng Ngũ Uẩn đều là KHÔNG? Và sau khi chứng thực trực tiếp bằng kinh nghiệm đó, ngài đã thoát khỏi mọi điều ràng buộc của thế gian, ngài đã thực hành bằng cách nào? Đây là câu hỏi đánh đố cho tất cả các Phật tử. Chúng ta nên biết “Ngài vượt thoát tất cả, Mọi KHỔ ĐAU ách nạn” thì đây là sự chứng nghiệm NIẾT BÀN (hết Khổ), sự chứng nghiệm rốt ráo VÔ NGÃ hay TÁNH KHÔNG. Đây là kết quả của công phu quán chiếu, nếu chúng ta tu mà y cứ theo kết quả NIẾT BÀN, mà không tìm ra nguyên nhân của cách chứng đắc để thực hành thì chúng ta đã phạm phải sai lầm nghiêm trọng. Đó là lối tu cưỡng ép Niết Bàn, giả tưởng TÁNH KHÔNG, bám lấy TÁNH KHÔNG để áp đặt lên TÂM nhưng không hề biết cách thức để trực nghiệm Niết Bàn, thâm nhập thực tướng KHÔNG của vạn pháp.

Bài viết này là một sự đàm luận xảy ra thực tế giữa thầy Nguyên Hải (thầy của tôi) và các Phật tử và các thầy khác ở khắp nơi. Có rất nhiều điều thầy đã giảng nhưng tôi chỉ trích chọn một số thông tin mà tôi cho là cần thiết để trả lời câu hỏi “chứng đắc Bát Nhã Tâm Kinh bằng cách gì?”, qua đó bạn sẽ hiểu những chỗ khúc mắc của Tâm Kinh, cũng như cách chứng đắc là dùng pháp Thiền Tứ Niệm Xứ, qua đó bạn cũng hiểu được Vô Ngã, Tánh Không (Chơn Không) và một số điều liên quan đến Bát Nhã (Tuệ Giải Thoát). Bài viết này không trình bày chi tiết về cách hành thiền Tứ Niệm Xứ, bạn muốn biết thì xin đọc Kinh Tứ Niệm Xứ hoặc các bài viết về Tứ Niệm Xứ trên trang web của chúng tôi. Bài viết không dài lắm, tôi cố ý sắp xếp nội dung theo trình tự để tiếp cận vấn đề cho dễ dàng, xin các đạo hữu bỏ chút thời gian tìm hiểu cho tường tận.

Mong duyên lành đến với đạo hữu.

Hân Hạnh và Trân Trọng

Thanh Phước

 

Hỏi: Ta là gì? (Ngã là gì?)

Đáp:

Câu hỏi này chỉ có giá trị ở trong thế giới HỮU NGÃ. Chứ khi đã đi vào thế giới VÔ NGÃ thì không còn hợp lý để hỏi như vậy nữa. Nếu nhất định muốn câu trả lời thì có thể nói: TA vừa KHÔNG, vừa CÓ. TA là KHÔNG: Vì tuyệt đối không thấy bất cứ một pháp nào có thể là TA. TA vẫn CÓ: Vì vẫn thấy ta có sự GIÁC BIẾT tất cả các pháp khác. Cho nên không thể nói ta là KHÔNG CÓ. Hẳn vì ta không là bất cứ pháp nào, cho nên ta có thể GIÁC BIẾT mọi pháp (cái luận lý cũng tương tự như HƯ KHÔNG vì nó không là bất cứ thứ gì, nên có thể làm nổi bật tất cả mọi vật)

Điều thú vị là trong cái trạng thái VÔ NGÃ đó vì ta không còn lệ thuộc bất cứ cái gì nữa cả, cho nên ta có một sự TỰ CHỦ TUYỆT ĐỐI. Nói như thế có nghĩa là ta có một cảm nhận về NGÃ RẤT VỮNG CHẮC, không dễ lung lay như thời chưa chứng ngộ VÔ NGÃ. Cho nên cái VÔ NGÃ đó có đầy đủ 4 tánh chất: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH mà ĐẠI THỪA thường hay diễn tả về trạng thái NIẾT BÀN. Bạn có thể hiểu được những gì tôi vừa nói chăng?

Sau khi đã hiểu rõ được chính TA, rồi ta sẽ hiểu rõ bản chất vừa SẮC vừa KHÔNG của các pháp. Đó là những gì đã nói ở trong kinh BÁT NHÃ. Nhưng ta phải chứng được VÔ NGÃ trước mới có thể thấu hiểu trọn vẹn kinh BÁT NHÃ. Và muốn chứng VÔ NGÃ thì phải THỰC HÀNH TỨ NIỆM XỨ. Đó là “CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT” mà ĐỨC THẾ TÔN đã khẳng định và tôi cũng đã chứng nghiệm được như thế.

Hỏi: Vô ngã là gì?

Đáp:

VÔ NGÃ LÀ RA KHỎI GIÒNG CHẢY CỦA BÃN NGÃ.

Khi con người chưa được giải thoát thì luôn sống theo BÃN NGÃ của mình. Tức luôn luôn chiều theo những đòi hỏi của THÂN và TÂM, hoặc theo đường ÁC hoặc theo đường THIỆN. Dầu theo đường nào đi nữa, khi THÂN hoặc TÂM gặp phải sự bất toại nguyện, thì con người sẽ thấy ĐAU KHỔ. Con đường ÁC gây đau khổ đã đành (theo luật nhân quả) mà THIỆN vẫn có thể gây nên đau khổ. Cái gọi là BÃN NGÃ gồm có 2 phần: THÂN và TÂM. Thân và Tâm như những giòng sông chảy liên tục không ngừng nghỉ. Hôm nay nó TRONG hay ĐỤC, chảy MẠNH hay YẾU, tùy theo nhân duyên đã gặp những đất đá gì mà nó đã chảy qua từ trong quá khứ. Rồi giòng sông đổi qua hướng này hay hướng khác, thì cũng tùy theo sức mạnh của giòng chảy và nhân duyên với những đất đá mà nó đang gặp trong hiện tại.

Người không hay biết gì về BÃN NGÃ của mình thì như người đang bị cuốn trôi và ngụp lặn trong giòng sông. Bậc VÔ NGÃ là người đã hoàn toàn hiểu biết về giòng chảy của BÃN NGÃ, đã thấy rõ ràng sự chảy của giòng sông, đã ra khỏi giòng sông, không còn bị ngụp lặn trong giòng sông, và không còn bị khổ đau theo hoàn cảnh của giòng sông.

Muốn đạt đến sự giải thoát đó thì phải luôn luôn quan sát THÂN và TÂM của mình để thấy rõ sự đổi thay của THÂN TÂM trong từng giây phút. Càng thấy rõ sự đổi thay của THÂN và TÂM theo nhân duyên càng thấy rõ THÂN, TÂM đều VÔ NGÃ, chẳng phải là TA, chẳng phải là CỦA TA. Do đó mà trở thành KHÁCH QUAN, ĐỘC LẬP với chính BÃN NGÃ của mình. Đó gọi là “ra khỏi giòng sông”. Lúc đó dầu có trôi theo giòng sông thì cũng không thể còn bị giòng sông nhận chìm nữa.

Hỏi: Xin cho biết ý nghĩa thật của Vô Ngã

Đáp:

Ý nghĩa thật của VÔ NGÃ là như “mình không hiện hữu”. Nhưng trạng thái đó dễ gì ai hình dung dung được. Vì ai ai cũng thấy mình hiện hữu sờ sờ trong mọi thời điểm. Điều đó còn khó truyền cảm hơn ngày xưa khi GALILEO tuyên bố với ĐỨC GIÁO HOÀNG rằng quả đất đi quanh mặt trời chứ không phải mặt trời đi quanh quả đất. Vì thời đó ai ai cũng chỉ thấy sờ sờ hằng ngày mặt trời đi quanh quả đất, mọc phương đông lặn phương tây. Cho nên nếu bạn không thực hành TỨ NIỆM XỨ, không thường quan sát chính mình đến một mức độ nào đó thì thật khó cảm nhận được nghĩa thật của VÔ NGÃ là gì. Rất nhiều người đã hiểu lầm rằng VÔ NGÃ là đè bẹp cái NGÃ.

Hỏi: chữ “quán” phải hiểu như thế nào cho chính xác trong Bát Nhã Tâm Kinh?

Đáp:

Rất nhiều Phật Tử THỰC HÀNH SAI chữ QUÁN của PHẬT trong kinh BÁT NHÃ. Ví dụ khi nói “QUÁN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG” tức là đã coi đó như một sự LUYỆN TÂM và như vậy là sẽ THỰC HÀNH SAI LẠC cách tu hành, sẽ biến một PHÁP TU ĐỂ PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ thành một CÁCH TU CÓ THAM ÁI LÀM CHE MỜ TRÍ TUỆ. Quán của BÁT NHÃ là một sự KHẢO SÁT KHÁCH QUAN trên NGỦ UÂN: SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, và THỨC. KHẢO SÁT chúng cùng một tinh thần KHẢO SÁT CỦA CÁC NHÀ BÁC HỌC ở trong phòng thí nghiệm. Có như thế TRÍ TUỆ mới phát sinh để thấy THỰC TƯỚNG của NGỦ UẨN. Không cần biết nó VÔ NGÃ hay KHÔNG VÔ NGÃ. Dĩ nhiên nếu cứ khảo sát một cách khách quan thì thế nào THỰC TƯỚNG VÔ NGÃ cũng sẽ thấy như CHƯ PHẬT đã khám phá.

Bằng trái lại, nếu cứ LUYỆN TÂM, chưa thấy KHÔNG, chưa thấy VÔ NGÃ đã ÁP BỨC TÂM bắt nó tin là KHÔNG, là VÔ NGÃ thì càng có kết quả trái ngược lại. Chả khác gì người đi đường càng mong cho MAU ĐẾN lại càng thấy LÂU HƠN. Ai tu pháp của PHẬT mà cứ LUYỆN TÂM kiểu đó thì chỉ có THAM ÁI nổi lên, chỉ thêm duy trì NGÃ CHẤP, thì làm sao thấy được VÔ NGÃ. Do vì thiếu TINH THẦN KHÁCH QUAN, THIẾU TINH THẦN KHOA HỌC như thế mà người tu PHẬT xưa nay khó chứng được BÁT NHÃ.

Hỏi: Khảo sát thì làm gì? Khảo sát khác với cầu nguyện, tụng niệm như thế nào?

Đáp:

Khi KHẢO SÁT thì tâm bạn chỉ theo dõi những biến động của PHIỀN NÃO. Sẽ HẾT nghĩ ngợi tới những đối tượng đã làm mình phiền não như TIỀN BẠC, TÌNH YÊU v.v… Do đó mà PHIỀN NÃO cũng sẽ chấm dứt. Người CẦU NGUYỆN cũng có cùng một hiệu ứng như vậy. Tuy nhiên pháp tu QUÁN (KHẢO SÁT) là cao hơn và có TRÍ TUỆ hơn vì sẽ đưa tới khả năng thấy được NGUYÊN NHÂN CỦA PHIỀN NẢO để TẬN DIỆT chứ không phải như sự CẦU NGUYỆN thì chỉ dùng HY VỌNG mà tạm QUÊN ĐI thôi.

Hỏi: Xin giải thích chữ CÓ, KHÔNG, CHƠN KHÔNG trong Kinh Bát Nhã và nêu lợi ích của sự chứng ngộ Bát Nhã Tâm Kinh

Đáp:

Tôi xin định nghĩa một vài ký hiệu, làm cho liên hệ trực tiếp với tiếng VIỆT của minh hơn, để cho độc giả dễ nhớ:

CKCHƠN KHÔNG: KHÔNG ở trong mọi thời bất chấp có sự hiện diện nào, bất chấp CÓ hoặc KHÔNG.

K KHÔNG của thế gian: KHÔNG khi không có sự hiện diện nào, đối lập với CÓ

C khi có sự HIỆN HỮU của bất cứ thứ gì: CÓ sự hiện diện nào đó, đối lập với KHÔNG

Để ý rằng, trong cái nghĩa “không thực” hay “không có” thì CK và K đều giống nhau, nhưng CK là “không thực” bất chấp tình trạng C hay K. Điều đó có nghĩa là đối với một bậc đã CHỨNG BÁT NHÃ thì vì họ đã thấy tất cả các pháp là CK nên không còn gì trên thế gian là đáng sợ với họ nữa. Đó là lý do kinh BÁT NHÃ bảo khi chứng ngộ BÁT NHÃ thì “VÔ HỮU KHỦNG BỐ, VIỄN LY ĐIÊN ĐẢO MỘNG TƯỞNG” và do đó không còn chi để KHỔ. Hết KHỔ mãi mãi thì gọi là NIẾT BÀN (DIỆT ĐẾ). Trong khi một người thế gian thì chỉ hết SỢ (khủng bố) khi KHÔNG (K) có sự khủng bố mà thôi, chứ mỗi khi C trở lại thì vẫn bị SỢ như thường. Sự HẾT KHỔ như vậy chỉ là TẠM BỢ cho nên không phải là NIẾT BÀN.

Nghe như vậy, có người thắc mắc: Như vậy phải chăng người chứng ngộ, vì coi cái gì cũng KHÔNG THỰC, nên sống THIẾU THỰC TẾ hoặc HỜ HỬNG với đời hay không?

— Thưa Không! Vì CK khác với K. CK vẫn không từ bỏ C cho nên CK vẫn duy trì ý nghĩa CÓ chứ không phải như K. Và vì vẫn có ý nghĩa CÓ cho nên bậc chứng ngộ vẫn sống RẤT THỰC, vẫn RẤT THỰC TẾ không khác gì người đời cả. Họ không phải như một người BI QUAN chỉ thấy cuộc đời với ý nghĩa K. Hãy coi ví dụ sau đây thì sẽ hiểu dễ hơn về sự chứng ngộ BÁT NHÃ:

Ví như một người THƯỢNG xưa nay ở trên núi, tưởng NƯỚC BIỂN có MÀU XANH, nhưng khi đã ra tới BIỂN, đã nhìn thẳng trong NƯỚC, đã múc nước lên coi, và đã khám phá ra rằng thật ra NƯỚC TRONG, không có màu nào cả. Tuy đã giác ngộ NƯỚC KHÔNG MÀU như vậy nhưng khi trở về núi vẫn thấy NƯỚC XANH không khác gì khi chưa giác ngộ. Hiện tượng vẫn không có gì khác, chỉ khác ở trong TRÍ TUỆ của ông, là trong cái XANH vẫn rất THỰC đó, ông ta đã biết XANH = KHÔNG. Như vậy ông ta vừa thấy XANH vừa thấy KHÔNG XANH. Bậc giác ngộ BÁT NHÃ cũng như vậy, dầu đã thấy SẮC = KHÔNG nhưng SẮC ấy vẫn thấy rõ ràng như bình thường, chẳng mất đi chút nào cả. Vẫn thấy SẮC là SẮC như khi chưa GIÁC NGỘ.

Rồi như ông người THƯỢNG kia khi trở về NÚI, vẫn thấy BIỂN XANH, vẫn thấy BIỂN ĐẸP, vẫn YÊU THÍCH màu xanh đó. Nhưng ông sẽ không còn KHỔ khi mất màu XANH đó, vì ông đã biết BẢN CHẤT nó không THỰC. Người chứng ngộ BÁT NHÃ cũng như vậy, vẫn yêu thích cái CÓ, nhưng không còn bị MÊ HOẶC bởi cái CÓ. Nhờ đã biết cái KHÔNG đã sẵn trong cái CÓ, nên không ngạc nhiên gì HÔM QUA CÓ, HÔM NAY KHÔNG. Do dó bậc CHỨNG NGỘ không còn ĐAU KHỔ bởi những MẤT MÁT, cho dù là người THÂN. Nói tóm lại người chứng ngộ BÁT NHÃ vẫn có thể vui hưởng tất cả những cái CÓ cũng chẳng khác người đời, nhưng không còn thấy KHỔ hay thấy SỢ khi có chuyện bất ý xảy ra.

Nghe như vậy, có người lại nghi ngờ tình yêu của một bậc CHỨNG NGỘ. Nếu ông ta thây đời không thực thì làm sao ông ta có thể “YÊU HẾT MÌNH”?

— Dạ thưa, ông ta còn YÊU nhiều hơn nữa cơ! vì ĐỜI thì vẫn thấy THỰC không có gì khác. Cũng như ông người THƯỢNG khi trở về núi, vẫn thấy BIỂN chẳng bớt XANH chút nào cả, vẫn thấy ĐẸP như xưa, nên vẫn YÊU không có gì thay đổi. Nhưng lý do YÊU nhiều hơn, là vì không còn sợ KHỔ vì YÊU. Cũng như một người chạy xe, nếu biết bây giờ xe mình có thể chạy nhanh mà vẫn an toàn (không bị khổ xảy ra) thì có quyền phóng nhanh hơn. Nghe như vậy, có người có thể lo lắng: Vậy thì người chứng ngộ có thể làm chuyện VÔ ĐẠO ĐỨC chăng? Vì ông ta không còn sợ khổ thì dại gì không làm bất cứ điều gì để mà vui thú.

— Thưa không! vì khi chứng ngộ BÁT NHÃ thì cũng thấy cái TA của mình cũng là CHƠN KHÔNG, nên đã đạt THANH TỊNH VÔ ĐIỀU KIỆN. Với sự THANH TỊNH đó các ngài không còn NGÃ, không còn THAM SÂN SI để gây nên TỘI LỖI. Đó là chưa nói, vì NGÃ bây giờ là CK, nên ÍCH KỶ không còn, nên TÌNH YÊU càng được phát triển dễ dàng hơn. Vã lại với TRÍ TUỆ của một bậc GIÁC NGỘ thì TÌNH YÊU cũng là HẠNH PHÚC và Ý NGHĨA chân thật nhất của cuộc sống. TÌNH YÊU của họ đáng gọi là TÍNH YÊU ĐÍCH THỰC (TRUE LOVE) vì không còn NGÃ nên không phải do YÊU MÌNH mà ra YÊU NGƯỜI như thế gian. Và vì TÌNH YÊU không còn ÍCH KỶ cho nên chẳng phiền trách hay ghen tương khi người YÊU “cất cánh”.

Sau cùng hết, và cũng điểm quan trọng nhất là sự GIÁC NGỘ BẢN THỂ BẤT SANH của mình. Khi đã nhận ra được mình BẤT SANH (chưa bao giờ sanh) thì biết mình sẽ BẤT TỬ (không còn chết). Lúc đó không còn lệ thuộc NGỦ UẨN nên không còn CHẾT theo NGỦ UẨN. Muốn thấy rõ trình độ này thì phải THỰC HÀNH TỨ NIỆM XỨ mới có thể cảm nhận được, chứ không thể hiểu qua sự bàn luận. Nếu bạn không thực hành TỨ NIỆM XỨ thì cũng chỉ như kẻ chỉ nghe kể mùi vị thức ăn, mà chẳng chịu nếm, dầu tôi cố gắng diễn tả cỡ mấy bạn cũng không thể hình dung được. Thực hành TỨ NIỆM XỨ còn gọi là thực hành THIỀN MINH SÁT để phát triển MINH SÁT TUỆ. Tức phát triển TRÍ BÁT NHÃ, để vượt qua các tiến trình CHÁNH KIẾN, CHÁNH TƯ DUY, CHÁNH NIỆM, CHÁNH ĐỊNH, v.v. trước khi đi đến GIÁC NGỘ. Tiến trình PHÁT TRIỂN TRÍ TUỆ như vậy kinh gọi là HÀNH THÂM BÁT NHÃ (BÁT NHÃ có nghĩa là trí tuệ).

Hỏi: Xin hãy nói sơ về Thiền Tông Trung Hoa? Tứ Niệm Xứ và thiền tông có khác biệt gì không?    

Đáp:

Xưa nay đa số Phật tử Việt Nam và Trung Hoa rất nặng tinh thần tông phái, và coi thường các tông phái khác. Họ quá tôn kính THẦY TỔ và theo thầy tổ nhiều hơn theo PHẬT. Giai do vì họ thiếu KINH TẠNG sách vở nghiên cứu một cách rộng rãi cho nên thầy dạy sao thì trò nghe vậy, thầy chê ai thì trò chê theo từ đời này qua đời khác. Khổ nổi các vị thầy tỏ từ bên Trung Hoa thì cũng chưa phải là những bậc đã GIÁC NGỘ như PHẬT hay các vị A LA HÁN nên chưa chắc đã có CHÁNH KIẾN. Sự dạy dỗ hướng đẫn của họ do đó mà lắm lúc cũng tùy tiện theo tư tưởng của họ chế tác, không phù hợp với KINH TẠNG của PHẬT.  Rất nhiều vị thầy tổ, do thiếu cách THỰC HÀNH đúng pháp PHẬT, mà chỉ theo cách thực hành của các vị tổ trước, cho nên không đi đến sự chứng ngộ đến nơi đến chốn, trong khi các tín đồ đệ tử thì vẫn ca tụng họ hết mình. Rốt cuộc ông thầy tổ giảng kinh PHẬT ra sao thì các đệ tử ôm chắc và tin như vậy.

Tai hại nhất là rất nhiều thầy tổ từ đời này qua đời khác, đã không thực hành THIỀN theo pháp TỨ NIỆM XỨ mà PHẬT đã chỉ dạy, lại đi theo bức tranh NGƯU ĐỒ của mấy con trâu của những người chăn trâu. Ý nghĩa chính của bức tranh NGƯU ĐỒ là phương pháp KỀM HÃM TÂM, làm cho TÂM THUẦN THỤC, rồi để mình được thong dong. Nhưng với cái thấy có CHÁNH KIẾN của một bậc đã chứng ngộ VÔ NGÃ thì pháp tu đó vẫn còn thấp và chưa ra khỏi sự tạo tác của NGÃ CHẤP (kềm hãm TÂM theo ý muốn của mình). Pháp tu đó chắc chắn không đưa đến sự giác ngộ SỰ THẬT VÔ NGÃ.

Lý do phải theo pháp TỨ NIỆM XỨ của PHẬT mới có thể đi đến sự GIÁC NGỘ (con đường độc nhất mà PHẬT đã xác định) vì PHẬT biết NGÃ CHẤP do từ 4 phía: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP dấy lên. Người tu vẫn thường thua trận với NGÃ vì NGÃ như một quân thù có thể dấy lên và đánh úp ta từ cả 4 phía: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP. Vì có THÂN mà thấy có TA. vì có THỌ khổ đau, sung sướng, mà thấy có TA. v.v.

Trong khi đó pháp tu của THIỀN TÔNG thì chỉ đối phó với quân địch NGÃ từ một phía TÂM mà thôi. mà cái TÂM đem ra để đối phó quân địch cũng do NGÃ chỉ huy. Như vậy sự đương cự với NGÃ không những đã phiến diện, với chỉ một mặt trận TÂM, mà ngay trong phe ta cũng đã có sẵn quân thù mai phục trà trộn. Như vậy thì đố mà thắng được quân thù NGÃ.

Pháp TỨ NIỆM XỨ của PHẬT chỉ dạy cách theo dõi quan sát tìm hiều cả 4 mặt trận THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP. chúng diễn tiến như sao thì phải thấy rõ như vậy. Không để cho NGÃ hay TÂM THAM ÁI có cơ hội chủ động điều khiển gì hết. Có như thế mới có thể thấy rõ BẢN CHÂT và NHÂN QUẢ của THÂN, THỌ, THÂN, PHÁP do đâu mà có. Có như thế mới thấy rõ gốc cội của VÔ MINH CHẤP NGÃ để dứt sạch sự vô minh. Đó là sự chứng ngộ đầy đủ tất cả 12 NHÂN DUYÊN đã tạo ra sự SINH TỬ LUÂN HỒI vậy. Pháp THIỀN TỨ NIỆM XỨ của PHẬT tuy rất dễ thực hành chỉ: CÓ SAO THẤY VẬY (muốn thấy được THỰC TƯỚNG thì phải như vậy thôi), nhưng lại trở thành rất khó đối với những kẻ nhiều tâm THAM ÁI. Với những kẻ này thì làm cái gì cũng phải có chủ đích theo ý mình đã ham muốn. Không có chuyện “CÓ SAO THẤY VẬY” được. Mà mỗi khi đã tu với tâm THAM ÁI thì đã bị cái NGÃ làm chủ và dẫn dắt rồi. Do đó dầu có tuyên bố về pháp tu đẹp đẽ cao siêu cỡ mấy thì vẫn ở trong mê hồn trận của NGÃ bày vẻ ra (từ VÔ THỦY đến nay trong mọi sự việc).

Chỉ có những người tu với tinh thần TRÍ TUỆ, nhất định phải tìm hiểu cho ra lẻ mình là gì? mình từ đâu có? KHỔ ĐAU phiền muộn từ đâu mà ra? v.v. thì mới có thể hứng thú ham thích với pháp TỨ NIỆM XỨ. Thật ra pháp TỨ NIỆM XỨ là kinh nghiệm tu của PHẬT trong tinh thần khắc khoải muốn tìm hiểu về chính mình: “xuyên qua bao vạn kiếp, NHƯ LAI đi kiếm ông thợ xây cửa dựng nhà…” (xem kinh Pháp Cú). Chỉ với một tâm trạng mong thấy SỰ THẬT của chính ta như vậy mới cảm thấy thích thú: “CÓ SAO THẤY VẬY”. Chứ với đa số căn cơ TRÍ TUỆ thấp, THAM ÁI nhiều, thì chỉ ham tu các pháp được quảng cáo là CAO SIÊU, THƯỢNG THỪA, hoặc cốt để TA hay hơn, cao hơn, hoặc AN VUI hơn mà thôi. Đó là lý do tại sao đa số người tu khó ra khỏi NGÃ để thấy được gốc cội của NGÃ CHẤP, VÔ MINH.

Chỉ có THIỀN TỨ NIỆM XỨ thì mới thật sự đặt hành giả luôn luôn sống trong tinh thần TRÍ TUỆ, sống với sự GIÁC BIẾT bình đẳng với mọi pháp, bình đẳng giữa TA với các pháp bên ngoài. Mà mỗi khi đã sống trong GIÁC TÁNH tức là đã ra khỏi vòng kiềm tỏa của NGỦ UẨN, ra khỏi vòng kiềm tỏa của các pháp HỮU VI, ra khỏi vòng kiềm tỏa của NGÃ CHẤP. Nhờ thế mà SỰ THẬT VÔ NGÃ mới dần dần hiển lộ để đi đến sự thấy rõ SỰ THẬT VÔ NGÃ. Đó chính là sự GIÁC NGỘ KHÔNG TÁNH của vạn pháp. SỰ THẬT VÔ NGÃ mới là KHÔNG TÁNH chân thật chứ không phải loại KHÔNG TÁNH đầy tính lý luận của nhiều ông Đại thừa chưa ra khỏi rừng TƯ TƯỞNG, còn trong vòng kiềm tỏa của NGŨ UẨN.

Cho nên, có thực hành TỨ NIỆM XỨ mới có thể chứng ngộ và hiểu một cách rất chính xác về kinh BÁT NHÃ. Bằng không, sẽ hiểu lầm BÁT NHÃ, KIM CANG theo tinh thần PHI PHÁP, rồi chủ trương từ bỏ các pháp của PHẬT, chê bai các pháp NGUYÊN THỦY của PHẬT là TIỂU THỪA, rồi do đó từ từ bị MẤT GỐC. Mỗi khi ĐẠI THỪA đã bị MẤT GỐC NGUYÊN THỦY thì dầu ca tụng lớn lao cỡ mấy cũng chỉ là một thân cây KHÔ, và CHẾT. Hiện tượng đó đã và đang xảy ra ở TRUNG HOA, ở NHẬT, và ở ĐẠI HÀN. Chỉ có ai trở về lại với gốc cội NGUYÊN THỦY thì mới có thể cứu sống được PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA. Muốn ĐẠI THỪA thật sự là ĐẠI THỪA có thể vươn cao và lớn mạnh mãi, thì ĐẠI THỪA phải có đầy đủ gốc rể NGUYÊN THỦY. Ai còn có tâm thức kỳ thị chê bai PHẬT GIÁO NGUYÊN THỦY là TIỂU THỪA, là những người còn mang tư tưởng cố chấp, sai lầm và thiển cận của mấy ông tổ chưa biết pháp chứng đắc của Phật.

Hỏi: Tôi thấy nói đến thiền thì ai cũng nghĩ là tìm cách thanh tịnh thân tâm. Như vậy tập vô niệm (như các ông sư, tổ Trung Quốc), đừng cho vọng niệm dấy lên, để cho tâm yên tĩnh là điều hợp lý chứ sao ông lại chê bai?

Đáp:

Xin trả lời bạn như sau:

1) Thiền để có ĐỊNH là ở cấp sơ cơ. Thiền để có HUỆ là ở cấp rốt ráo. Như tôi nói ở trong nhiều bài viết (như Thiền và Chánh Niệm, Tứ Niệm Xứ Con Đường Dẫn Tới Bát Nhã, Thực hư về Niệm Hoa Vi Tiếu), THIỀN rốt ráo là để thấy để chứng nghiệm SỰ THẬT VÔ NGÃ. Đạt VÔ NGÃ mới có ĐẠI ĐỊNH vô điều kiện, định ngay trong cả động. Định vô điều kiện như thế mới là định bền chắc, vì không có điều kiện để làm nó thay đổi.

2) Định của VÔ NIỆM là định có điều kiện, là định khi vắng bặt ý niệm. Nhưng sẽ dễ dàng mất định khi ý niệm dấy lên. Bậc trí tuệ không tìm kiếm những loại định tạm bợ như vậy. Ai đòi hỏi tâm vắng niệm thì chẳng khác gì đòi hỏi trời không mây; sông Hậu giang không bèo. Dầu có một lúc nào đó trời có thể không mây; sông có thể đã được cào hết bèo; nhưng mây sẽ có lại, bèo sẽ từ chỗ khac trôi về.

3) Mong cho không có ý niệm dấy lên thì chẳng khác gì mong sống được trong một bầu trời không có mây hay trong một thế giới không có âm thanh vậy. Phải biết rằng nơi đâu có được sự yên tĩnh thì nơi đó sẽ làm nổi bật sự ồn ào hơn đâu cả. Ai càng muốn yên tĩnh thì sẽ càng dễ thấy ồn ào. Do đó kẻ có lòng dục muốn yên tĩnh có thể bị điên vì không được thỏa mãn.

4) Quan niệm dẹp được ý niệm đi từ sự VÔ MINH của ý thức HỮU NGÃ. Tưởng rằng thế giới ý niệm thuộc về của ta và ta có thể dẹp sạch được ý niệm mãi mãi. Sự thật không phải vậy. Ý niệm cũng như một loại âm thanh siêu kín, có thể phát ra từ ta mà cũng có thể truyền từ xa đến ta. Bởi thế mới có chuyện “truyền tâm ấn”, hoặc “nhập tri kiến Phật”. Bởi thế đôi lúc ta có những giấc mơ không bao giờ nghĩ tới.

5) Bởi hiểu bản chất của ý niệm là VÔ NGÃ, sự sinh khởi của ý niệm là VÔ NGÃ (chẳng do ta), cho nên Đức Phật không dạy VÔ NIỆM mà dạy CHÁNH NIỆM. PHẬT dạy ta cứ quan sát sự sanh diệt của ý niệm để rồi sẽ khám phá ý niệm “DO DUYÊN SANH” không phải do ta sanh, không phải là của ta. Từ sự khám phá VÔ NGÃ đó ta sẽ đạt được sự YÊN TĨNH VÔ ĐIỀU KIỆN bất chấp có ý niệm hay không.

6) Đối với pháp CHÁNH NIỆM của PHẬT thì dầu có sự phân biệt ĐỘNG/TỊNH nhưng sự phân biệt ĐỘNG TỊNH đó không quan trọng mà sự quan trọng hơn là cái GIÁC TÁNH ở ngoài ĐỘNG/TỊNH quan sát được ĐỘNG/TỊNH, phân biệt biệt được ĐỘNG/TỊNH. Chính nhờ cái GIÁC TÁNH THƯỜNG TỊNH nên mới có khả năng phân biệt ĐỘNG/TỊNH như thế. Pháp CHÁNH NIỆM của Phật, nhờ luôn luôn luôn sống trong GIÁC TÁNH đó mà GIÁC TÁNH sẽ càng ngày càng phát triển để rồi ta sẽ ngộ được GIÁC TÁNH THƯỜNG TỊNH đó.

7) Trong khi đó các tổ Trung Hoa đưa ra pháp VÔ NIỆM chủ trương KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỘNG/TỊNH. Các Tổ tưởng rằng ngon hơn PHẬT, cao hơn PHẬT, vì không còn nhị biên phân biệt. Nhưng các ổng đã làm SAI LẦM cái khả năng phân biệt của TRÍ TUỆ. Nếu không còn có sự PHÂN BIỆT thì còn gì là TRÍ TUỆ nữa? Nếu không có sự PHÂN BIỆT thì còn gì là GIÁC BIẾT?

8) Hễ có GIÁC, có BIẾT là phải có sự PHÂN BIỆT. Giả như các ông tổ đạt được cái tâm VÔ PHÂN BIỆT thì khi ấy các ổng vẫn còn PHÂN BIỆT như thường. Nếu không thế, thì làm sao các ông biết đó là VÔ PHÂN BIỆT? (khác với PHÂN BIỆT)? Cho nên không bao giờ có chuyện VÔ NIỆM hoặc VÔ PHÂN BIỆT. Cái đó chỉ xảy ra với những người bị HÔN MÊ mà thôi.

9) Bởi Đức Phật đã biết trước chúng sanh vì còn VÔ MINH có thể đưa ra những pháp Thiền Định lầm lẫn, cho nên trong BÁT CHÁNH ĐẠO ngài mới có thêm chi CHÁNH ĐỊNH để cho ta cẩn thận phân biệt pháp thiền nào là pháp CHÁNH ĐỊNH, pháp nào là không. Do sự phân tích ở trên ta có thể kết luận rằng pháp CHÁNH NIỆM mới là pháp đưa đến CHÁNH ĐỊNH. Vì nó giúp phát triển TRÍ TUỆ VÔ NGÃ, tức cũng là TRÍ TUỆ BÁT NHÃ. Còn pháp VÔ NIỆM không phải là pháp đưa đến CHÁNH ĐỊNH (nhiều lắm chỉ đưa đến CẬN ĐỊNH, nhưng đôi khi còn có thể gây ra tai hại).

Hỏi: Tôi không biết cách chứng đắc Bát Nhã Tâm Kinh, tôi chỉ biết tụng đọc vào mỗi thời công phu: sáng, trưa, chiều. Tôi tụng đọc như vậy không biết bao giờ mới chứng được.  Làm sao để chứng đắc được những gì Bát Nhã Tâm Kinh mô tả?

Đáp:

Bây giờ hãy nói đến cách làm sao để chứng được BÁT NHÃ?

BÁT NHÃ không thể dùng TƯ TƯỞNG suy luận mà chứng được. Vì TƯ TƯỞNG cũng chỉ là một phần của NGỦ UẨN, nên kiểu đó không thể vượt ra ngoài NGỦ UẨN. Phải có đầy đủ CHÁNH KIẾN (GIÁC BIẾT thẳng) từ sự thực hành TỨ NIỆM XỨ để nhận rõ cái KHÔNG của chính TA trước. Khi chính cái TA đã là KHÔNG thì tất cả mọi cái CÓ mà nó thấy, cũng chẳng còn có nghĩa là CÓ nữa. Do đó mà CÓ cũng như KHÔNG.

Nhưng muốn chứng được cái KHÔNG của chính ta, thì phải nhận ra sự MÊ LẦM về ôm chấp NGỦ UẨN để từ bỏ trước. Mà muốn thấy sự ôm thủ NGỦ UẨN là MÊ LẦM thì phải CHIẾU KIẾN NGỦ UẨN để thấy cho rõ mọi UẨN đều do DUYÊN SINH. Chẳng có uẩn nào là TA, là của TA. Mà CHIẾU KIẾN NGỦ UẨN chính là thực hành TỨ NIỆM XỨ.

Tiến trình chứng ngộ phải đi đúng như vậy chứ không thể khác được. Bởi thế ĐỨC THẾ TÔN mới bảo TỨ NIỆM XỨ là “CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT”. Không có một con đường nào khác nữa. Ai thiết tha muốn tìm thấy CHÂN LÝ, và có lòng tin tuyệt đối những lời dạy của PHẬT thì cứ thế mà hành, rồi sẽ thấy rõ những gì PHẬT đã nói ở trong kinh BÁT NHÃ. Đó là điều mà chính bản thân tôi đã chứng nghiệm và muốn chia xẻ lại cho các bạn, để để các bạn khỏi mất nhiều thì giờ tu loanh quanh như tôi trước đây.

Hỏi: Tâm KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC thì sẽ xâm nhập chân như của Bát Nhã. Phải thế không?

Đáp:

KHÔNG NGHĨ THIỆN, KHÔNG NGHĨ ÁC chưa hẳn đã thâm nhập vào CHÂN NHƯ. Các ông thầy nói câu đó với HUỆ MINH chỉ vì ông ta bị chấp chặt nặng vấn đề THIỆN/ÁC nên cần phải giúp ông ta gỡ ra đấy thôi. Ai chấp vào câu nói đó thì cũng chả chứng được CHÂN NHƯ BÁT NHÃ đâu. Vì vẫn còn nhị biên giữa THIỆN ÁC với KHÔNG THIỆN ÁC. Muốn thâm nhập CHÂN NHƯ thì phải thấy được bản chất của TÂM. Muốn thấy được bản chất của TÂM phải quan sát hành hoạt tự nhiên của nó. Chứ không phải đặt qui luật nghĩ ngợi cho nó theo mục đích của mình. Nếu ai đặt qui luật ĐỪNG NGHĨ ÁC, ĐỪNG NGHĨ THIỆN thì cũng sẽ chẳng thấy được bản chất của TÂM.

ĐỨC PHẬT là người hiểu sâu sắc nhất về bản chất của TÂM cho nên trong TỨ NIỆM XỨ ngài mới dạy cách quán rằng: “KHI TÂM THAM NỔI LÊN, BIẾT TÂM THAM NỔI LÊN, KHI TÂM KHÔNG THAM NỔI LÊN, BIẾT TÂM KHÔNG THAM NỔI LÊN, v.v… Dạy như vậy cũng có nghĩa rằng: “KHI TÂM NGHĨ THIỆN BIẾT TÂM NGHĨ THIỆN, KHI TÂM NGHĨ ÁC, BIẾT TÂM NGHĨ ÁC, KHI TÂM KHÔNG MUỐN NGHĨ THIỆN, KHÔNG MUỐN NGHĨ ÁC, CŨNG BIẾT TÂM ĐANG NHƯ VẬY”. Nói như vậy nghĩa là không ép buộc TÂM, mà chỉ THEO DÕI, QUAN SÁT để thấy được HÀNH HOẠT của TÂM, để hiểu bản chất của nó. Hiểu được bản chất của nó rồi thì sẽ biết tại sao nó phán đoán thế này hay nó phán đoán thế khác.

Từ đó mới hiểu được GỐC CỘI KHỔ ĐAU, PHIỀN NÃO, VỌNG ĐỘNG do TÂM GÂY RA. Sau khi các GỐC CỘI KHỔ ĐAU, PHIỀN NÃO, VỌNG ĐỘNG, … của TÂM đã được biết, thì cũng sẽ biết làm sao để cho TÂM TRONG SÁNG để HẾT ĐAU KHỔ, HẾT PHIỀN NÃO, HẾT VỌNG ĐỘNG. Lúc đó mới có khả năng biết được CHÂN TÂM là như thế nào. Lúc đó mới GIÁC NGỘ té ra CÁC PHÁP VÔ NGÃ: THIỆN, ÁC, KHÔNG THIỆN, KHÔNG ÁC, v.v. đều do NHÂN DUYÊN tạo thành THỨC TÁNH mà thành NHƯ THỰC. Chứ thật ra tất cả đều KHÔNG THỰC. Đó mới là THỰC TƯỚNG của các PHÁP.

Hỏi: bây giờ xin ông hãy giải thích tại sao chứng đắc Bát Nhã (Bát Nhã Tâm Kinh), phải đi bằng pháp hành Tứ Niệm Xứ?

Đáp:

“TỨ NIỆM XỨ LÀ CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT ĐỂ ĐẠT ĐƯỢC QUẢ VỊ CHÁNH TRÍ (BÁT NHÃ)” Đó là là lời khẳng định của chính ĐỨC PHẬT chứ không phải là ý kiến cá nhân của tôi. Lý do như vậy là vì:

1) Cũng như khi các bạn về thăm tôi, có người đi từ hướng đông, có người đi từ hướng tây, từ hướng bắc hay hướng nam, có người đi đường bộ, có người đi đường thủy, có người đi máy bay. Như vậy thì tùy theo vị trí và điều kiện mà mỗi người chọn đường đi và cách đi cho thích hợp. Nhưng tất cả khi đã đến vùng nhà của tôi thì đều phải đi qua cùng một con đường từ ngỏ vào nhà. Những đường đi và cách đi từ khởi sự cũng ví như 84000 pháp môn thích hợp cho mọi căn cơ của chúng sanh. TỨ NIỆM XỨ ví cho con đường từ ngỏ vào nhà của tôi.

2) Lý do như vậy là vì muốn CHỨNG BÁT NHÃ (quả vị CHÁNH TRÍ) thì phải HIỂU BIẾT VỀ MÌNH chứ không thể vẫn U MÊ về chính mình. Mà muốn HIỂU BIẾT VỀ MÌNH thì phải THEO DÕI, KHẢO SÁT, TÌM HIỀU về mình. Đó chính là pháp TỨ NIỆM XỨ.

3) Chứng BÁT NHÃ là HẾT KHỔ. Mà muốn HẾT KHỔ thì phải HIỂU VỀ KHỔ, HIỂU VỀ NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ. Mà KHỔ thì ở BÊN TRONG CHÍNH MÌNH chứ KHỔ không ở ngoài. Nếu không nhìn vào bên trong chính mình thì làm sao HIỂU RÕ KHỔ như thế nào? Và nguyên nhân nào mà mình dấy lên sự KHỔ? Nhìn vào bên trong chính mình để tìm hiểu như vậy chính là TỨ NIỆM XỨ.

Thật sự là như thế. BÁT NHÃ chính là để diễn tả cho chúng sanh biết khi CHỨNG ĐẮC thì sẽ thấy các vấn đề như thế nào. Nếu chưa chứng đắc thì làm sao có thể thấy NGỦ UẨN GIAI KHÔNG hở bạn (tức không còn lệ thuộc NGỦ UẨN)? Nếu chưa chứng đắc thì sao có thể thấy mình vẫn GIÁC BIẾT mà không cần MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN, Ý hở bạn? Nếu chưa chứng đắc thì làm sao thấy hết cần KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO (con đường từ KHỔ đến NIẾT BÀN)? Nếu chưa chứng đắc thì làm sao vẫn tiếp tục GIÁC NGỘ ở trong VÔ MINH? (chưa hề có VÔ MINH, cũng không hết VÔ MINH)? Nếu chưa chứng đắc thì làm sao vẫn có NIẾT BÀN ở trong SINH TỬ (chưa hề có GIÀ CHẾT, cũng không hết GIÀ CHẾT)?

BÁT NHÃ cho biết cái ĐÍCH ĐẾN nó như thế nào thôi, chứ không phải là cách đến đó. Sự cho biết ĐÍCH ĐẾN cũng quan trọng để cho người đi đường có ý thức rõ ràng mình đang đi về đâu, chỗ đó như thế nào, để mà nhận biết khi đã đến đó. Nếu không biết mô tê gì chỗ mình đến như thế nào thì làm sao biết đã đến hay còn phải đi nữa? Nếu không biết chút gì về chỗ mình đến như thế nào thì không lẻ cứ “vô định” mãi sao?. TUY NHIÊN nếu ai coi BÁT NHÃ như cách đi thì thật là “LẤY ĐUÔI LÀM ĐẦU” và đi ngược chiều TRÍ TUỆ. Vì sao? Vì cảnh giới BÁT NHÃ nó hoàn toàn ngược hẳn những quan niệm thông thường của người chưa chứng đạo, nên rất khó diễn tả để cho những người này có thể hiểu được từ cái KIẾN CHẤP sẵn có của họ. Nếu cố diễn tả BÁT NHÃ thì sẽ dễ làm rối trí óc của người bình thường và đôi khi còn bị họ cho mình điên loạn.

Bạn không nhớ sao, xa xưa khi con người, kể cả THÁNH KINH và ĐỨC GIÁO HOÀNG, đếu tin rằng MẶT TRỜI ĐI QUANH QUẢ ĐẤT, nên người ta suýt giết chết GALILEO khi ông ta tuyên bố trái hẳn: “QUẢ ĐẤT ĐI QUANH MẶT TRỜI”. Nhưng với các bạn bè bác học của GALILEO, thì nhờ có căn cơ TRÍ TUỆ nên đã tin được điều như vậy, và tìm cách kiểm chứng, để hôm nay tất cả NHÂN LOẠI đều đã thấy biết như vậy.

Cũng vậy, hầu hết tất cả trong đây đều thấy TA là NGŨ UẨN, NGŨ UẨN là TA. Thế nhưng BÁT NHÃ lại bảo rằng “NGỦ UẨN GIAI KHÔNG” tưc TA chả có NGỦ UẨN nào cả? Nếu ai tin được BÁT NHÃ thì mới có thể tìm cách kiểm chứng chuyện đó. Và cách duy nhất để kiểm chứng chuyện đó chính là TỨ NIỆM XỨ. Vì càng thực hành TỨ NIỆM XỨ thì càng KHÁCH QUAN với chính TA. Càng KHÁCH QUAN với chính TA thì càng ngày càng bớt DÍNH MẮC với NGỦ UẨN, và đến khi không còn DÍNH MẮC ngủ uẩn nữa thì sẽ thấy rõ NGỦ UẨN thật sự chẳng phải là TA, mà chỉ là những pháp biến động theo DUYÊN SINH với các pháp khác mà thôi.

Hỏi: Cảm ơn ông vì những câu trả lời trên rất có ý nghĩa. Bây giờ xin ông giảng đoạn sau Bát Nhã Tâm Kinh nói:

“Bồ Tát QUÁN TỰ TẠI

Khi QUÁN CHIẾU thâm sâu

TRÍ TUỆ để GIẢI THOÁT

Bổng soi thấy 5 UẨN

(5 Thành phần của Ta,

SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC)

Tất cả đều là KHÔNG.

Chứng thực điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi KHỔ ĐAU ách nạn.”

Tôi không hiểu rõ lắm về 5 Thành phần của Ta, SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC. Xin ông vui lòng giảng cho tôi hiểu rõ thêm. Nếu tất cả đều là Không rồi thì còn gì nữa? Thì ra sao mà được vượt thoát mọi khổ đau, ách nạn?

Đáp:

Cũng như KHOA HỌC coi NƯỚC gồm có 2 thành phần tạo thành là HYDROGEN (hy đờ rô den) và OXYGEN (ô xy den), thì ĐẠO PHẬT cũng vậy, thấy CON NGƯỜI có 5 thành phần tạo thành gọi là NGỦ UẨN. Tôi tạm giải thích một cách thô thiển 5 THÀNH PHẦN đó như sau:

SẮC: THÂN XÁC

THỌ: CẢM GIÁC

TƯỞNG: TƯ TƯỞNG

HÀNH: HÀNH ĐỘNG

THỨC: KIẾN THỨC, THÓI QUEN, TẬP QUÁN.

Đó là 5 thành phần làm bạn phân biệt, khác với người khác. Cũng do các thành phần này thay đổi, mà ta thấy có người này, khác với người kia. Bạn còn nghĩ ra có thành phân nào nữa không? Thế nhưng nếu ai quan sát kỷ 5 thành phần đó của mình thì sẽ thấy rõ rằng phần nào cũng do NHÂN DUYÊN tạo lập và biến đổi cả. Ví dụ THÂN XÁC thì do NƯỚC (75%), do các chất HỮU CƠ (organic), VÔ CƠ (inorganic), từ THỨC ĂN, KHÔNG KHÍ, toàn là những gì không phải do bạn tạo thành. Và do nhân duyên có QUỐC GIA khác nhau, có giòng giống khác nhau, có thức ăn khác nhau… mà có THÂN XÁC to nhỏ, trắng, đen, đẹp, xấu, khác nhau.

Tương tự, các thành phần khác cũng như vậy. Cho đến thành phần thứ 5 là THỨC (kiến thức, thói quen, tập quán) thì cũng do từ HỌC ĐƯỜNG, XÃ HỘI, TÔN GIÁO, SỰ TIẾP XÚC, v.v…tạo thành. Từ đó THỨC của người này khác với THỨC của người khác. Do NHÂN DUYÊN tạo ra THỨC đó chứ chẳng phải do mình.  Khi đã thấy quá rõ ràng, không còn nghi ngờ gì nữa, mọi thành phần của 5 uẩn đều như các giòng sông có sự trôi chảy riêng của nó, biến đổi liên tục không ngừng theo NHÂN DUYÊN, chẳng có gì do ta thì sẽ GIÁC NGỘ ra rằng:

Mình thấy SẮC chứ không phải SẮC là mình. Như vậy kể như SẮC (của mình) là KHÔNG mặc dù SẮC (THÂN XÁC) vẫn còn đó.

Mình thấy THỌ chứ không phải THỌ là mình. Như vậy kể như THỌ (của mình) là KHÔNG mặc dù THỌ (CẢM GIÁC) vẫn còn đó.

Tương tự, các uẩn còn lại: TƯỞNG, HÀNH, THỨC cũng đều như thế. Tất cả dầu vẫn CÓ mà kể như là KHÔNG. CÓ mà kể như KHÔNG thì gọi là CHƠN KHÔNG (xem định nghĩa mà tôi đã giải thích ở trên). Hiểu như thế thì TA cũng là CHƠN KHÔNG. Mặc dầu cái TA vẫn sờ sờ ra đó. Sự QUÁN SÁT ngũ uẩn để khám phá ra TA=CHƠN KHÔNG cũng chẳng khác gì sự khảo sát NƯỚC BIỂN XANH của ông NGƯỜI THƯỢNG để khám phá ra rằng MÀU XANH của nước thực sự là KHÔNG MÀU mặc dầu MÀU XANH vẫn còn thấy như trước (xem thí dụ tôi đã cho bên trên).

Khi đã GIÁC NGỘ được TA là CHƠN KHÔNG thì dầu gặp KHỔ, cái KHỔ đó cũng là CHƠN KHÔNG. Vì ta “THẤY KHỔ” (cũng như thấy cái ly cái chén) chứ không phải TA KHỔ. Đây là điểm quan trọng, tôi xin lặp lại: TA THẤY KHỔ chứ không phải TA KHỔ. Đây là điểm rất thâm diệu mà chỉ có người đã có thực hành TỨ NIỆM XỨ đúng cách mới có thể thấy rõ ràng. Cái KHỔ do đó dầu CÓ cũng như KHÔNG, nên KHỔ=CHƠN KHÔNG. Hễ cái gì CÓ mà cũng như KHÔNG thì gọi là CHƠN KHÔNG (xem định nghĩa CHƠN KHÔNG ở trên). Nói CHƠN KHÔNG là vì cái “KHÔNG” đó bền bĩ VÔ ĐIỀU KIỆN. Vì bền bĩ nên là CHƠN THẬT. Vì CHƠN THẬT mới gọi là “CHƠN KHÔNG”.

Khi KHỔ đã là “CHƠN KHÔNG” thì kể như KHÔNG CÒN BAO GIỜ KHỔ nữa. KHỔ TẬN DIỆT, nên BÔ TÁT VƯỢT THOÁT MỌI KHỔ ĐAU ÁCH NẠN (bất chấp KHỔ còn hay mất).  Tôi diễn tả BÁT NHÃ như vậy thật rất CHÍNH XÁC, rất THỰC NGHIỆM, tuy nhiên thật khó cho ai chưa thực hành TỨ NIỆM XỨ mà có thể hiểu nổi. ĐẠO PHẬT do đó có HỌC còn phải có HÀNH, mới có thể THÀNH.

Hỏi: Bây giờ xin giải đoạn sau trong Bát Nhã Tâm Kinh, rất khó hiểu và lưu ý xin liên hệ về pháp Tứ Niệm Xứ mà ông đã nói: 

Không hề có VÔ MINH

Không có HẾT VÔ MINH

Cho đến KHÔNG GIÀ CHẾT

Cũng KHÔNG HẾT GIÀ CHẾT

Đáp:

Bản chất vạn pháp là VÔ NGÃ. Tức NGÃ chưa hề có bao giờ. Chỉ do VÔ MINH mà có CHẤP NGÃ. Nếu chưa hề có NGÃ thì có nghĩa là chưa hề có ai VÔ MINH. Đó là ý nghĩa của câu “Không hề có VÔ MINH”. Còn cái câu “”Cũng không hết VÔ MINH” thì có nghĩa là cái TƯỚNG VÔ MINH do “DUYÊN SINH” mà hiện khởi như vậy, chứ chẳng phải có một NGÃ vô minh. Vì do DUYÊN SINH nên cái TƯỚNG đó vẫn thường chuyển, không có gì thay đổi.

Ví dụ con sông CỨU LONG khi còn trình độ CHẤP NGÃ, có kẻ thì cho đó là sông của TIBET, của TÀU, của THÁI LAN… hay của VIỆT NAM. Nhưng khì đã thấy đó chỉ là một giòng chảy do DUYÊN SINH của trời đất, chẳng thuộc về một ai cả, tức thấy được giòng sông là VÔ NGÃ. Thì sư lưu chuyển của giòng sông vẫn như thế không có gì đổi thay.

Cũng vậy, những ai tinh tấn thiền quán TỨ NIỆM XỨ, sẽ giác ngộ VÔ NGÃ. Đó là lúc thấy rõ NGŨ UẨN của ta chỉ là một giòng sông biến chuyển không ngừng theo DUYÊN SINH. Chẳng thực có có một NGÃ nào ở trong đó cả. Đó là lúc giác ngộ được VÔ NGÃ để chẳng còn ôm chấp NGỦ UẨN nữa. Tuy nhiên dầu giác ngộ rồi, nhưng các hiện tướng của NGỦ UẨN (NGÃ, SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT) vẫn tiếp tục lưu chuyển theo duyên sinh, không có gì thay đổi. Tức vẫn thấy PHẬT có NGÃ, có GIÀ, có CHẾT không khác ai cả. Đó là lý do BÁT NHÃ có những câu:

Không hề có VÔ MINH

Không có HẾT VÔ MINH

Cho đến KHÔNG GIÀ CHẾT

Cũng KHÔNG HẾT GIÀ CHẾT

Hỏi: vậy thì (theo lời giảng đoạn trên) muốn hiểu Bát Nhã thì phải hiểu Vô Ngã? Mà muốn thâm nhập vào tận cùng ý nghĩa của Vô Ngã thì phải làm sao? Tức là tôi muốn hiểu nó một cách trực tiếp mà không thông qua lời giảng của ông? 

Đáp:

Sau khi đã nhận chân được CHƠN KHÔNG, VÔ NGÃ của chính ta thì những danh từ VÔ MINH, GIÀ, CHẾT cũng trở thành vô nghĩa vì xưa nay đâu hề có một NGÃ nào đâu để có VÔ MINH, GIÀ và CHẾT. Đó là lý do có những câu:

Không hề có VÔ MINH

Không có HẾT VÔ MINH

Cho đến KHÔNG GIÀ CHẾT

Cũng KHÔNG HẾT GIÀ CHẾT

KHÔNG KHỔ, KHÔNG NIẾT BÀN

KHÔNG TRÍ, cũng KHÔNG ĐẮC

Vì Không gì để ĐẮC.

Cho nên muốn hiểu chính xác BÁT NHÃ, phải chứng ngộ VÔ NGÃ trước. Tức phải thấy rõ cái CHƠN KHÔNG của chính ta.  Tiến trình để chứng BÁT NHÃ phải là như sau:

1) Theo dõi, quan sát, THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP để thấy cho thật rõ (không còn chút nghi ngờ) rằng: Tất cả những thành phần tạo nên ta (NGỦ UẨN) đều “DO DUYÊN SANH”, không phải là “TA”, không phải là “CỦA TA”. Đây chính là sự thực hành TỨ NIỆM XỨ.

2) Khi đã thấy một cách rõ ràng mọi PHÁP HỮU VI do DUYÊN SANH, thì không còn tâm ôm thủ các pháp hữu vi (NGỦ UẨN) mà cho là “MÌNH” hay “CỦA MÌNH” nữa. Lúc đó chấm dứt ÁI (attachment), THỦ, HỮU, và CHẤP NGÃ. Đó là chứng VÔ NGÃ.

3) Lúc đã chứng VÔ NGÃ rồi, thấy TA không là bất cứ cái CÓ nào, thì lúc đó mới hiểu chính xác nghĩa lý “CHƠN KHÔNG” của BÁT NHÃ (mà tôi đã giải thích ở trên). Với TRÍ TUỆ VÔ NGÃ mới có thể vượt qua giới hạn diễn tả của những ngôn từ chữ nghĩa vốn do các đầu óc CHẤP NGÃ đặt ra.

NÓI TÓM LẠI: Muốn hiểu rõ BÁT NHÃ bắt buộc phải thực hành TỨ NIỆM XỨ. Không thể làm khác được. Chính vì như thế ĐỨC PHẬT mới khẳng định: TỨ NIỆM XỨ là CON ĐƯỜNG ĐỘC NHẤT để đi đến NIẾT BÀN (Xem Kinh Tứ Niệm Xứ) 

Hỏi: Xin ông nói thêm về tiến trình chứng Bát Nhã Tâm Kinh bằng Tứ Niệm Xứ?

Đáp:

ĐÂY LÀ TIẾN TRÌNH CHỨNG NGỘ BÁT NHÃ:

1) Khi hành thiền TỨ NIỆM XỨ, khảo sát từng phần SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC đều thấy chúng là những PHÁP sinh diệt và biến đổi theo NHÂN DUYÊN với các pháp khác, không do mình, không phải của mình, không là mình. Từ đó không còn ôm chấp NGỦ UẨN là mình nữa.

2) Cái đáng gọi là mình chỉ còn là TÁNH GIÁC mà thôi. Chính vì cái TÁNH GIÁC đó mà ta mới cảm thấy ta “CÓ”.

3) Tuy nhiên TÁNH GIÁC không thể là cái “BỊ THẤY”, vì không lẻ có cái khác thấy cái GIÁC nữa sao. Vì không thể “BỊ THẤY”, không bao giờ “ĐƯỢC THẤY”, nên nói “KHÔNG HIỆN HỮU”.

Trong 3 tiến trình trên thì vượt qua được cái số 1 là trần ai nhất, khó nhất . Vì từ khi (giòng sinh mạng) mỗi chúng sanh bắt đầu thành hình, do: VÔ MINH -> HÀNH -> THỨC -> DANH SẮC (NGÃ) thì chính cái NGŨ UẨN (trong đó có THỨC) đã tạo ra NGÃ CHẤP ngay từ đầu để che lấp TÁNH GIÁC. Cũng như một cái BONG BÓNG khi mới sinh ra để trôi nổi theo giòng nước, mặc dầu cũng có HƯ KHÔNG ngay từ đầu, nhưng cái HƯ KHÔNG đó đã bị BAO KÍN từ khi nó mới sinh ra. Đó là lý do chúng sanh luôn luôn có TÁNH GIÁC nhưng từ BẢN LAI chưa hề thấy DIỆN MỤC (mặt thật về cái TÁNH GIÁC của mình) mà chỉ có bắt đầu bằng VÔ MINH mà thôi.

Vì cái THỨC sinh ra cái NGÃ ngay từ đầu, nên qua vô tận kiếp trôi nổi, chúng sanh luôn luôn ôm chấp NGŨ UẨN (trong đó có THỨC) cho đó là NGÃ của mình. Cái vỏ NGŨ UẨN tạo thành TA được hình thành bởi THÂN TA, VUI BUỒN CỦA TA, TƯ TƯỞNG CỦA TA, HÀNH VI CỦA TA, KIẾN THỨC CỦA TA… Rồi cái TA đó còn được bao bọc thêm bởi vô số vỏ bọc bên ngoài nữa như TÔN GIÁO của TA, TÔNG PHÁI của TA, QUÊ HƯƠNG của TA, ĐẤT NƯỚC của TA, chủng tộc màu da của TA, v.v… Cho nên sự bức phá được tất cả các vỏ bọc này từ ngoài vào trong không phải là một chuyện dễ nếu không có sự chỉ dạy của PHẬT, đấng đã có kinh nghiệm tu hành và đã thành công, GIÁC NGỘ, với cách tu hành đó.

Qua phương pháp TỨ NIỆM XỨ mà PHẬT đã dạy, nếu chúng sanh biết dùng TRÍ TUỆ để quán chiếu, biết CHÁNH NIỆM (khảo sát) và biết dùng CHÁNH TƯ DUY với đầy đủ CHÁNH KIẾN mà PHẬT đã trao truyền, mới có thể nhận ra được rằng, ngay từ cái THÂN TA, TƯ TƯỞNG TA, KIẾN THỨC TA, v.v… đều do NHÂN DUYÊN tạo dựng chứ chẳng phải do TA chút nào cả. Do vì NHÂN DUYÊN ta sinh ra ở Việt Nam thên THÂN TA mới như thế này không cao lớn như MỸ. Nếu ta sinh vào nước HỒI GIÁO thì chưa chừng bây giờ, quan niệm của ta, tư tưởng của ta, đã là khác, chưa chừng ta cũng cầu nguyện THIÊN CHÚA còn hơn các CON CHIÊN. Cho nên tất cả NGŨ UẨN đều “DO DUYÊN SINH” đúng như PHẬT đã dạy. Nhờ THIỀN QUÁN TINH TẤN chúng ta CHỨNG NGHIỆM lại được CHÁNH KIẾN VÔ NGÃ của PHẬT về NGŨ UẨN, để không còn chút nghi ngờ, để hoàn toàn hết ôm chấp NGŨ UẨN, loại bỏ THÂN KIẾN.  BỨC PHÁ được NGỦ UẨN, là bức phá được THÀNH TRÌ KIÊN CỐ nhất của NGÃ. Để rồi sau đó ta tiến lên tìm kiếm cái TA CHÂN THẬT hơn và đó chính là cái TÁNH GIÁC. Chỉ có TÁNH GIÁC mới xứng đáng gọi là TA. Nhưng TÁNH GIÁC đó không thể thấy được, không thể “BỊ THẤY” không thể “ĐƯỢC THẤY” nên cũng không thể nói “CÓ” hay “KHÔNG”. Tướng “CÓ” tướng “KHÔNG” đều không thể xác định (hoặc cũng có thể nói cả hai đều có) cho nên mới nói THỰC TƯỚNG của ta là VÔ TƯỚNG. Đó gọi là GIÁC NGỘ về THỰC TƯỚNG của TA. Sau khi THỰC TƯỚNG về TA đã được quyết định, ta sẽ đi đến THỰC TƯỚNG của CHƯ PHÁP. (còn tiếp)

Hỏi: Vậy thì một vị chứng đắc Vô Ngã có khả năng sống như thế nào?

Đáp:

Điều chắc chắn là một vị đã chứng đắc VÔ NGÃ, đã thấy NGỦ UẨN GIAI KHÔNG thì không còn CHẤP THỦ, CHÂP HỮU, không còn tiếp tục CHẠY THEO TRẦN CẢNH (Knh Lăng Nghiêm), ôm ấp NGỦ UẨN mà cho đó là SỰ SỐNG của mình. Có như vậy mới gọi là GIẢI THOÁT ra ngoài các PHÁP HỮU VI và đạt CỨU CÁNH NIẾT BÀN. Một vị đã chứng đắc VÔ NGÃ có khả năng SỐNG NHƯ KHÔNG CÓ MÌNH HIỆN HỮU. Như vậy mới đáng gọi là đã hết CHẤP NGÃ, CHẤP THỦ, CHẤP HỮU để đạt quả vị VÔ SANH (chưa bao giờ sinh ra), BẤT TỬ.

Hỏi: Xin hãy thực tế, tôi là người luôn bị cảm giác (Thọ) chi phối. Vậy thì khi cái chân tôi đau (vì lý do gì đó) thì tôi thấy đau. Đúng không? Tôi đau! Vâng! Sự thật là vậy, vẫn có ngã như thường. Vậy thì quán Thọ làm sao thấy Vô Ngã? Làm sao các pháp không có tự tánh?

Đáp:

Chúng ta đang bàn thảo dần dấn tới vấn đề GIÁC NGỘ rồi đây.

Dĩ nhiên CÁI CHÂN không phải là TA vì nếu nó là TA thì không lẽ khi bị tai nạn, lỡ bị CƯA CHÂN bỏ đi, thì TA bị mất sao?  Nếu CHÂN không phải là TA thì khi CHÂN ĐAU bạn phải nói một cách CHÍNH XÁC rằng: TÔI THẤY CÁI CHÂN NÓ ĐAU chứ không phải TÔI ĐAU. Đây là một điểm SÂU SẮC thứ nhất mà ta phải thấy rõ. Và nếu bạn áp dụng pháp QUÁN THỌ, một trong 4 pháp quán của TỨ NIỆM XỨ (quán THÂN, quán THỌ, quán TÂM, quán PHÁP) thì bạn càng thấy rõ như thế.

Đây là cách GIẢI THOÁT thuần túy bằng TRÍ TUỆ để THẤY (GIÁC NGỘ) SỰ THẬT và SỐNG VỚI SỰ THẬT chứ không phải với loại TỰ KỶ ÁM THỊ, LẤY TƯ TƯỞNG ÁP ĐẢO SỰ THẬT. Nếu không phải vậy thì ĐẠO PHẬT không xứng danh là ĐẠO TRÍ TUỆ và ĐỨC PHẬT cũng không xứng danh là ĐẤNG GIÁC NGỘ.

Nếu bạn biết thực hành QUÁN THỌ thì VẪN THẤY RÕ RÀNG ĐAU, CÀNG RẤT RÕ LÀ ĐẰNG KHÁC. Nhưng bạn sẽ GIÁC NGỘ ra một điều và sẽ THẤY RÕ CÁI ĐAU Ở NGOÀI nên không còn SỢ hay KHỔ vì nó. Trên nguyên tắc bất cứ gì mà bạn THẤY đểu phải ở NGOÀI. Và rồi, nếu bạn có SỨC MẠNH TRÍ TUỆ thì bạn sẽ đủ khả năng để SỐNG VỚI SỰ THẬT đã GIÁC NGỘ đó, để dầu THẤY RÕ ĐAU mà vẫn KHÔNG ĐAU.

Sức mạnh của TRÍ TUỆ để THẤY và để SỐNG với SỰ THẬT là năng lực chính để GIẢI THOÁT của ĐẠO PHẬT. Cũng như một người có TRÍ TUỆ mạnh mẽ hơn THAM ÁI, thì khi thấy rõ GIẤY NỢ với bằng chứng rõ ràng, sẽ sẵn sàng VUI VẺ với SỰ THẬT để TRẢ NỢ chứ không như cái ông nặng THAM ÁI, dầu thấy rõ SỰ THẬT mà vẫn thích từ chối CỰ NỰ SỰ THẬT, nên không bao giờ thoát được KHỔ ĐAU của NỢ.

Bạn hãy thực hành QUÁN THỌ đi rồi dần dần sẽ thấy như tôi nói. Nhưng trước hết phải có lòng TIN và phải ĐỪNG SỢ SỆT khi QUÁN THỌ. Càng giữ vững TÂM BÌNH YÊN KHÔNG SỢ SỆT, thì dầu thấy ĐAU KHỔ RÕ RÀNG hơn, nhưng đồng thời cũng thấy chúng TÁCH BIỆT nên không bị KHỔ. Sẽ đạt đến khả năng thấy CHÂN ĐAU mà mình KHÔNG ĐAU. Rồi đến lúc cao hơn nữa sẽ thấy THÂN CHẾT mà mình KHÔNG CHẾT. Khả năng đó sẽ từ từ thành HIỆN THỰC nếu có lòng tin. Nếu nó không thành công được thì chỉ vì bạn không TIN để thực hành, hoặc không đủ CAN ĐẢM, đủ BÌNH TÂM nhận ra thế thôi.

Cũng như tôi bảo một đứa nhỏ rằng “ỚT NGON”. Nhưng vì sức nó quá yếu, mới đụng chút đã thấy CAY chịu không nổi nên không thể TIN là NGON mà không tập ăn. Thế thôi! Hoặc cũng như mấy CÔ YẾU BÓNG VÍA đi đêm sợ MA. Tôi bảo họ cứ đi chậm chậm bình tĩnh mà dòm, sẽ không thấy MA đâu cả. Nhưng nếu họ BÓNG VÍA quá yếu. Càng ĐI CHẬM càng RUN càng SỢ thì dĩ nhiên càng TIN có MA ĐẾN nhiều hơn. Nếu một ai đó cứ kiểu như đứa nhỏ, hay cô gái kia thì biết đến ngày nào mới GIÁC NGỘ được: “CÁC PHÁP KHÔNG TỰ TÁNH”. KHỔ ĐAU, THỌ CẢM cũng thế thôi.

Thân ái

Nguyên Hải   

(Xin vào trang batchanhdao.wordpress.com để xem cập nhật mới nhất của các bài viết)

 

Phụ chú 1: Bát Nhã Tâm Kinh – TUỆ GIẢI THOÁT TÂM KINH (Kinh BÁT NHÃ)

Bồ Tát QUÁN TỰ TẠI

Khi QUÁN CHIẾU thâm sâu

TRÍ TUỆ để GIẢI THOÁT

Bổng soi thấy 5 UẨN

(5 Thành phần của Ta,

SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC)

Tất cả đều là KHÔNG.

Chứng thực điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi KHỔ ĐAU ách nạn.

 

Nghe đây Xá Lợi Tử

SẮC chẳng khác gì KHÔNG

KHÔNG chẳng khác gì SẮC

SẮC chính thực là KHÔNG

KHÔNG chính thực là SẮC

Còn lại 4 uẩn kia

Cũng đều như vậy cả.

 

Xá Lợi Tử nghe đây

Thể mọi PHÁP đều KHÔNG

KHÔNG SANH cũng KHÔNG DIỆT

KHÔNG NHƠ cũng KHÔNG SẠCH

KHÔNG THÊM cũng KHÔNG BỚT

Cho nên trong CHƠN KHÔNG

Không có SẮC, THỌ, TƯỞNG,

Cũng không có HÀNH, THỨC

Không có: MẮT, TAI, MŨI,

LƯỠI, THÂN, Ý, 6 CĂN

Không có SẮC, THANH, HƯƠNG,

VỊ, XÚC, PHÁP 6 TRẦN

Không có 18 GIỚI

Từ MẮT (nhãn thức)… đến Ý THỨC

 

Không hề có VÔ MINH

Không có HẾT VÔ MINH

Cho đến KHÔNG GIÀ CHẾT

Cũng KHÔNG HẾT GIÀ CHẾT

KHÔNG KHỔ, KHÔNG NIẾT BÀN

KHÔNG TRÍ, cũng KHÔNG ĐẮC

Vì Không gì để ĐẮC.

 

Khi một vị BỒ TÁT

Nương TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT

Thì Tâm KHÔNG CHƯỚNG NGẠI

Vì Tâm KHÔNG CHƯỚNG NGẠI

Nên KHÔNG CÓ SỢ HÃI

XA LÌA mọi MỘNG TƯỞNG

XA LÌA mọi ĐIÊN ĐẢO

ĐẠT CỨU CÁNH NIẾT BÀN.

 

Chư PHẬT trong 3 đời

(Xưa, Nay, và Tương Lai)

Y TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT

Đắc VÔ THƯỢNG ĐẲNG GIÁC

 

Cho nên TUỆ GIẢI THOÁT

Là Linh Chú ĐẠI THẦN

Là Linh Chú ĐẠI MINH

Là Linh Chú CAO TỘT

Không có gì Sánh bằng

Có NĂNG LỰC TIÊU TRỪ

TẤT CẢ MỌI KHỔ NẠN

Chân Thật mãi như vậy

 

Nên nói TUỆ GIẢI THOÁT

Tức nói đến NĂNG LỰC

Qua ĐI, Qua ĐI

Qua ĐẾN BỜ BÊN KIA

Qua nhanh BỜ GIẢI THOÁT

Chân Thật là như vậy.

Phụ chú 2:

Đọc thêm:

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: