RSS

Đàm luận Phật Pháp (Bài 3) – Hỏi tới nơi, trả lời tới cùng.

14 Aug

Giới thiệu: mời bạn thử trả lời các câu hỏi sau đây, trước khi đọc lời giảng của thầy Nguyên Hải.

Hỏi: Hãy chứng minh “các pháp do duyên sinh”?

Hỏi: “Các pháp do duyên sinh” sao lại không có khởi đầu? Cho ví dụ thử xem?

Hỏi: Tại sao Phật im lặng khi hỏi về Thượng Đế?

Hỏi: Hãy cho ví dụ về hiện tượng tái sinh?

Hỏi: Thành Phật không phải là mục đích tối hậu không?

Hỏi: Có khó khăn nào ngăn cản ta gặp được chánh pháp?

Hỏi: Cái gì che lấp chúng sanh không thấy được Chánh Pháp?

Hỏi: Thế nào là thuyết pháp hay?

Hỏi: tại sao THIỀN thì phải thực hành TỨ NIỆM XỨ. Bắt buộc phải như thế?

Hỏi: Người ta dạy tôi là VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, áp dụng trong thiền như thế nào?

Hỏi: Có người dạy thiền là tâm không phân biệt Tốt Xấu, thầy có thể cho ý kiến gì về việc này?

Hỏi: Anh có ý kiến gì về chuyện ăn thịt loài vật?

Hỏi: Em thấy mình lúc nào cũng cô độc, lẻ loi mặc dù có gia đình bên cạnh, mặc dù có cuộc sống ấm no, mặc dù có nhiều người thân, bạn bè yêu thương quý mến… nhưng vẫn cảm thấy rất cô đơn … cảm thấy lạc lõng, ko biết mình từ đâu đến, và đến cái thế giới này để làm gì…

Hỏi: Tại sao có nhiều pháp tu hành nhiều người đang theo lại khác xa pháp tu của Phật vậy? Ví dụ như pháp tu của bà Thanh Hải.

Hỏi:  Tôi đọc sách thì thấy người ta nói về Diệt Thọ Tưởng Định, rồi Niết Bàn, thấy cũng khó hiểu. Xin hãy nói cho rõ ràng với vấn đề này, đừng trốn tránh.

Hỏi: con thấy nhiều người ăn nói rất cao siêu, đầy tình thương, rồi khi đụng chuyện thì trở nên rất ghê sợ. Sao đây thầy?

ΩΩΩ

Hỏi: hãy chứng minh “các pháp do duyên sinh”?

Đáp:

Trong lãnh vực TOÁN HỌC. Người ta thường xây dựng SỰ THẬT THÔNG THƯỜNG bằng một ĐỊNH ĐỀ (AXIOM) ví dụ: “ĐOẠN THẲNG LÀ ĐOẠN NGẮN NHẤT ĐỂ NỐI HAI ĐIỂM”.
Nếu ai cho rằng có sự KHÁC THƯỜNG, có cách nối ngắn nhất mà không bằng đường thẳng, thì phải đưa ra một ví dụ phản chứng. Bằng không, các nhà toán học đều phải công nhận “ĐOẠN THẲNG LÀ ĐOẠN NGẮN NHẤT ĐỂ NỐI HAI ĐIỂM”.

Cũng vậy khi ĐỨC PHẬT đưa ra ĐỊNH ĐỀ: “CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH”. Định đề đó luôn luôn được chứng nghiệm cho mọi pháp hữu vi. Nếu ai cho rằng có trường hợp khác SỰ THẬT THÔNG THƯỜNG ĐÓ, ví dụ “CÁC PHÁP DO GOD SINH”, thì người đó phải có chứng minh đàng hoàng. Bằng không thì ĐỊNH ĐỀ của PHẬT vẫn phải được chấp nhận theo tinh thần TOÁN HỌC. Có nghĩa là chả có GOD gì cả.

Hỏi: “Các pháp do duyên sinh” sao lại không có khởi đầu? Cho ví dụ thử xem?

Đáp:

Anh A chỉ là một DUYÊN sinh ra con cháu của anh A mà thôi chứ anh A  không phải là KHỞI ĐẦU của chúng nó. Vì trước anh A  còn có CHA MẸ sinh ra anh A. Cho nên tuân theo đúng LUẬT NHÂN QUẢ thì không thể dừng lại. Vì hể dừng lại ở đâu thì ngay tại đó có QUẢ mà không có NHÂN. Tức phản lại LUẬT NHÂN QUẢ. Vậy đúng theo LUẬT NHÂN QUẢ thì không thể ngừng lại. Mà không thể ngừng lại tức KHÔNG CÓ KHỞI ĐẦU. Chính xác hơn thì VẠN VẬT tương sinh tương diệt nhau trong NHÂN QUẢ LUÂN HỒI. Chuyện đó khi nào cũng thấy rõ trước mắt. Và đó thì cũng chỉ là nguyên tắc BẢO TỒN NĂNG LƯỢNG mà KHOA HỌC thường nói tới thôi.

Lý do cái đầu óc của ta tin có ĐẦU có CUỐI. Là vì sự thấy của ta xưa nay bị GIỚI HẠN bởi KHÔNG GIAN và THỜI GIAN. Trong bất cứ DOMAIN nào mà KHÔNG GIAN hay THỜI GIAN của nó bị GIỚI HẠN thì đương nhiên nó có ĐẦU có CUỐI. Nhưng vì KHÔNG GIAN không bao giờ bị GIỚI HẠN. THỜI GIAN cũng không bao giờ bị giới hạn. Nên chuyện ĐÂU và CUỐI chưa bao giờ là THẬT cả. Ta đã thấy cái gì THIỆT là cái ĐẦU TIÊN của những cái khác chưa? Nếu chưa thì tại sao ta U MÊ VỌNG TƯỞNG ra chuyện đó. Huống chi là khi vạn vật có sự LUÂN HỒI thì ĐẦU và CUỐI càng thêm VÔ NGHĨA. Nếu ta không hiểu nổi những điều này thì đừng hòng đủ TRÍ TUỆ để chứng được quả vị VÔ SANH như các bậc A LA HÁN, BỒ TÁT, và PHẬT.

Hỏi: Tại sao Phật im lặng khi hỏi về Thượng Đế?

Đáp:

Một số người cho rằng PHẬT thường im lặng khi hỏi về THƯỢNG ĐẾ chứng tỏ PHẬT không bác bỏ THƯỢNG ĐẾ. Nhưng lý luận như vậy là thiển cận. Vì Nếu có chuyện THƯỢNG ĐẾ tạo ra sự sống cho muôn loài chúng sanh, thì PHẬT phải là bậc rõ về công ơn THƯỢNG ĐẾ hơn ai hết. Thế sao một nhà ĐẠO ĐỨC như PHẬT lại không dạy cho chúng sanh biết ơn THƯỢNG ĐẾ mà lại im lặng?

Ngài im lặng chẳng qua vì hồi đó căn cơ chúng sanh còn quá thấp kém, kiến thức con người về VŨ TRỤ còn chưa có gì, số người tin THƯỢNG ĐẾ còn nhiều như cỏ dại mọc trên mặt đất, đâu đâu cũng có, từ đông sang tây. Nếu PHẬT trả lời thẳng thừng “KHÔNG CÓ THƯỢNG ĐẾ” thì sẽ tạo ra vô số CHỐNG ĐỐI và CHƯỚNG DUYÊN cho nhiều chúng sanh không đến với GIÁO PHÁP của ngài.

Phương chi khi ngài đã tuyên bố “CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH” thì đó cũng đã là bác bỏ chuyện các pháp do THƯỢNG ĐẾ sanh rồi. Nói thẳng ra, tất cả các đấng GIÁC NGỘ, không ai còn tin có THƯỢNG ĐẾ cả. Nếu ai còn chưa sạch ý niệm THƯỢNG ĐẾ thì biết rằng người đó chưa GIÁC NGỘ, thậm chí còn chưa hiểu được ĐẠO của PHẬT. THANH HẢI còn là một người như vậy.

Hỏi: hãy cho ví dụ về hiện tượng tái sinh?

Đáp:

Chuyện TÁI SANH chưa đến nổi là không chứng minh được. Một vài bằng cơ có thể kể ra là:
1) Hiện tượng THẦN ĐỒNG, chưa học mà đã biết (do đã học từ kiếp trước)
2) Hiện tượng ĐỒNG TÍNH, (vì kiếp trước mang giới tính khác)
3) Hiện tượng TIẾN HÓA của DARWIN (từ KHỈ tiến hóa thành NGƯỜI).

Không ai  kiếm được cách giải thích nào khác, hay hơn thuyết TÁI SANH, cho những hiện tượng trên

Hỏi: Thành Phật không phải là mục đích tối hậu không?

Đáp:

Dĩ nhiên là phải, nhưng không phải nhờ mong THÀNH PHẬT và có thể THÀNH PHẬT. Vì còn mong THÀNH PHẬT tức còn THAM SÂN SI. Mà còn THAM SÂN SI thì làm sao THÀNH PHẬT được. Trái lại phải phát triển TRÍ TUỆ để thấy rõ VÔ MINH CHẤP NGÃ để từ bỏ nó thì mới có thể hết THAM, SÂN, SI mà THÀNH PHẬT được. Cho nên sự THÀNH PHẬT phải do TRÍ TUỆ chứ không phải do THAM ÁI.
Tuy nhiên tôi cũng không kết án tâm MONG THÀNH PHẬT của các bạn đâu. Còn CA NGỢI là đằng khác. Vì ít lắm nhờ tâm đó mà các bạn mới chịu khó HỌC PHẬT mà TIẾN GẦN tới PHẬT. Thế là cũng đã có PHƯỚC BÁU hơn vô số chúng sanh chưa gặp được CHÁNH PHÁP của PHẬT rồi.

Hỏi: Có khó khăn nào ngăn cản ta gặp được chánh pháp?

Đáp:

NGŨ TRƯỢC ÁC THẾ.
Đây là 5 SỰ KHÓ KHĂN ngăn cản chúng sanh không đắc được CHÁNH PHÁP:

1) KIẾP TRƯỢC: Sinh ra vào thời kỳ không có Phật Pháp.
2) CHÚNG SANH TRƯỢC: Sinh vào thời kỳ có Phật Pháp, nhưng sinh nhằm vào loài chúng sanh thiếu trí tuệ, ví dụ như SÚC SINH, nên không thể học được Phật Pháp.
3) MỆNH TRƯỢC: Sinh vào thời kỳ có Phật Pháp, Sinh được làm người, nhưng thân xác bị tật nguyền không hoàn hảo, nên khó học và hành được Phật Pháp.
4) PHIỀN NÃO TRƯỢC: Sinh vào thời kỳ có Phật Pháp, Sinh được làm người, Cũng có thân xác đầy đủ. Nhưng lại gặp hoàn cảnh nhiều phiền não, ví dụ phải làm lụng đầu tắt mặt tối để kiếm sống, nên không có thì giờ học và hành Phật Pháp.
5) KIẾN TRƯỢC: Sinh vào thời kỳ có Phật Pháp, Sinh được làm người, Cũng có thân xác đầy đủ. Có hoàn cảnh sống thoải mái, nhưng đã lỡ bị dính mắc TÀ KIẾN (ví dụ sinh vào gia đình ngoại đạo) nên không còn biết giá trị của CHÁNH PHÁP để học, để hành. 

Chúng sanh nào vượt qua hết tất cả NGŨ TRƯỢC nói trên, GẶP ĐƯỢC CHÁNH PHÁP, HIỂU ĐƯỢC CHÁNH PHÁP, và HÀNH ĐƯỢC CHÁNH PHÁP thi phải biết chúng sanh đó có PHƯỚC ĐỨC rất lớn.

Hỏi: Cái gì che lấp chúng sanh không thấy được Chánh Pháp?

Đáp:

Đây là 5 phương cách che lấp chúng sanh không thấy được CHÁNH PHÁP:

1) NGHI NGỜ: Kẻ nghi ngờ CHÁNH PHÁP thì sẽ không học, không hành Chánh Pháp do đó sẽ không có cơ hội thấy được Niết Bàn. Như một kẻ đã nghi ngờ thì sẽ không lên Đường. Mà không ĐI thì chắc chắn sẽ không bao giờ ĐẾN. Kẻ đó kể như THẤT BẠI ngay từ đầu.
2) THIẾU TINH TẤN: Giả như một kẻ đã có lòng tin, đã lên đường, nhưng LƯỜI BIẾNG, không dốc lòng tinh tấn đi, đi một thời gian rồi bỏ cuộc quay về, thì kẻ đó cũng sẽ không đến đích được.
3) NÔN NÓNG: Như người đã có tin tưởng để lên đường, cũng tinh tấn trong cuộc hành trình, nhưng nếu người đó NÔN NÓNG quá, thì có thể bị “ACCIDENT” (TẦU HỎA NHẬP MA) thì cũng sẽ không đến đích được. Phương chi đạo NIẾT BÀN của PHẬT do TRÍ HUỆ mà GIÁC NGỘ (để chấm dứt VÔ MINH) chứ không phải do lòng THAM mà đạt.
4) THIẾU CHÁNH NIỆM: Chánh Niệm là luôn luôn nhớ nghĩ mình đang đi về đâu. Ví dụ người tu lấy NIẾT BÀN (KHỔ TẬN DIỆT) làm chính. Phải đến được cái đích đó mới ngừng. Thế nhưng trên đường đi đôi khi vì quá “HAM MÊ CẢNH LẠ ĐƯỜNG XA” rồi ngừng lại không đi nữa. Đó là hiện tượng nhiều người tu THIỀN ĐỊNH rồi bị lạc qua ham mê DANH TIẾNG, VÕ THUẬT (như Thiếu Lâm), CHỬA BỆNH, TIÊN TRI BÓI TOÁN, v.v.
5) THIẾU TRÍ HUỆ: Như người đi đường, từ đầu cho đến cuối, thế nào cũng sẽ gặp phải những khó khăn, những chướng ngại, những cám dỗ, không những từ bên ngoài mà còn ở trong ta phát ra, cho nên người tu phải có đầy đủ TRÍ HUỆ để đối phó. Người tu do đó phải luôn luôn giữ gìn sự TỈNH THỨC để nhận định, để học hỏi thêm, và để biết cách đối phó. Phải HỌC PHẬT cho đầy đủ để không bị lạc đường, phải THỰC HÀNH cho đúng pháp và trọn vẹn. HỌC và HÀNH đầy đủ thì chắc chắn sẽ THÀNH CÔNG.

Hỏi: Thế nào là thuyết pháp hay?

Đáp:

Nhiều Phật Tử khoe với tôi  rằng Thầy này thuyết pháp hay, Thầy kia thuyết pháp hay. Nhưng khi nhận xét về Phật Tử đó, dầu đã đi nghe thuyết pháp bao nhiêu lần, tánh tình, cuộc sống của cô ta, anh ta vẫn không có gì thay đổi. Như vậy đối với tôi, vẫn chưa đáng gọi là Thuyết Pháp hay. Với tôi, Một vị Giảng Sư gọi là Thuyết Pháp hay khi khi bài pháp mà ngài thuyết ra, có khả năng làm thay đổi cuộc đời của người khác. Nhiều vị Giảng Sư có tài ăn nói như một nhà văn nhà thơ, làm nhiều thính giả nghe say sưa. Nhưng sau khi nghe chả thay đổi được một cuộc đời nào cả. Cái đó đối với tôi, vẫn chưa đáng cho là hay.  Trái lại, với một bài pháp như sau đây của PHẬT, xét về văn chương thì chả có gì là văn vẻ cả. Lời văn có chỗ lặp đi lặp lại nhàm chán và khô khan. Nhưng đối với tôi thì lại là MỘT BÀI PHÁP TUYỆT VỜI. Vì nó đã làm thay đổi cả cuộc đời của tôi, sau khi tôi tin nhận và thực hành theo.
119. Kinh Thân hành niệm (Kàyagatàsati sutta)  – Trung Bộ Kinh – Majjhima Nikaya

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tịnh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Rồi một số đông Tỷ-kheo, sau buổi ăn, sau khi đi khất thực trở về, đang ngồi tụ họp trong hội trường, câu chuyện này được khởi lên giữa chúng Tăng:
— Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm, khi được tu tập và làm cho sung mãn, có được quả lớn, có được công đức lớn, như đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố.
Và câu chuyện này giữa các Tỷ-kheo ấy đã bị gián đoạn.
Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến hội trường, sau khi đến ngồi lên chỗ soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
— Ở đây, này các Tỷ-kheo, các Ông hiện nay đang ngồi bàn vấn đề gì? Câu chuyện gì của các Ông bị gián đoạn?
— Ở đây, bạch Thế Tôn, sau khi ăn xong, sau khi đi khất thực trở về, chúng con ngồi tụ họp tại hội trường, và câu chuyện sau này được khởi lên: “Thật vi diệu thay, chư Hiền giả! Thật hy hữu thay, chư Hiền giả! Thân hành niệm này được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có công đức lớn, đã được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác tuyên bố”. Bạch Thế Tôn, câu chuyện này của chúng con chưa bàn xong thời Thế Tôn đến.
— Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm được tu tập như thế nào, được làm cho sung mãn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn?
(Quán niệm hơi thở)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết: “Tôi thở vô dài”. Hay thở ra dài, vị ấy biết: “Tôi thở ra dài”. Hay thở vô ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở vô ngắn”. Hay thở ra ngắn, vị ấy biết: “Tôi thở ra ngắn”. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra”. An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô”, vị ấy tập. “An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra”, vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
(Bốn oai nghi)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, biết rằng: “Tôi đi”. Hay đứng, biết rằng: “Tôi đứng”. Hay ngồi, biết rằng: “Tôi ngồi”. Hay nằm, biết rằng: “Tôi nằm”. Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy biết thân thể như thế ấy. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.
(Ðầy đủ chánh niệm)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi bước tới, bước lui biết rõ việc mình đang làm; khi ngó tới ngó lui biết rõ việc mình đang làm; khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm; khi mang áo tăng-già-lê (sanghati), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm; khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm; khi đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.
Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm.

 

Hỏi: tại sao THIỀN thì phải thực hành TỨ NIỆM XỨ. Bắt buộc phải như thế?

Đáp:

1) Mục đích của TU HÀNH hay MỤC ĐÍCH của THIỀN là để CHẤM DỨT KHỔ ĐAU cho chính mình. Phải không nà? Như vậy kể như mình đóng vai trò của một BÁC SĨ chửa BỆNH KHỔ cho chính BỆNH NHÂN là mình.
2) Một BÁC SĨ muốn chửa bệnh cho một BỆNH NHÂN thì phải làm sao? Có phải là phải KHẢO SÁT BỆNH NHÂN để hiểu cho rõ BỆNH và để tìm cho ra NGUYÊN NHÂN của BỆNH để mà chửa trị nó, có phải không? Có thể nào một BÁC SĨ chửa bệnh mà không khảo sát BỆNH NHÂN không? Chắc chắn là không! Ngoại trừ mấy thứ LANG BĂM thì khỏi nói.
3) Như vậy thì THIÊN bắt buộc là phải KHẢO SÁT CHÍNH MÌNH để hiểu cho rõ cái KHỔ, và để tìm cho ra NGUYÊN NHÂN của KHỔ. Làm công cuộc KHẢO SÁT và TÌM HIỂU đó chính là thực hành TỨ NIỆM XỨ. 

KẾT LUẬN: THIỀN bắt buộc phải thực hành TỨ NIỆM XỨ mới đúng là THIỀN của PHẬT. Mọi thứ THIỀN khác đều chỉ là thứ thiền dành cho Thiện Ác, hay phục vụ tham ái.

Hỏi: Người ta dạy tôi là VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, áp dụng trong thiền như thế nào?

Đáp:

THIỀN KHÔNG CẦU ĐẮC của nhiều người thì chỉ không THAM ÁI bằng miệng. Nhưng thực sự thì vẫn DỐI LÒNG. Lòng thì vẫn THAM nhưng vì sợ THAM thì sẽ không đạt được nên phải ra qui tắc nhắc nhở ĐỪNG, ĐỪNG, ĐỪNG, VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC, thế thôi. Chính cái cần nhắc nhở VÔ SỞ CẦU, VÔ SỞ ĐẮC đã tố cáo bên trong còn THAM nên mới cần phải canh chừng và nhắc nhở như vậy.
Trái lại, với THIỀN TỨ NIỆM XỨ CÓ GÌ THẤY NẤY. Thì nếu thấy mình còn DỠ thì, ừ mình còn DỠ. Biết NHÂN DUYÊN còn phải DỠ như vậy thì phải DỠ như vậy chứ HAY sao được. Cũng như trời đang MÂY MÙ dày dặc chưa tan mà đòi có NẮNG sao được. Cho nên khi CÓ GÌ THẤY NẤY là sống đúng với NHÂN DUYÊN đang có. Như vậy thì NGU gì mà BỰC MÌNH với cái DỠ. Không bực mình với cái DỠ tức là CÓ GÌ VUI NẤY. PHÀM thì vui với PHÀM, THÁNH thì vui với THÁNH. Chả chê PHÀM, chả ham THÁNH. Sống được như vậy, thì dầu còn PHÀM mà đã là THÁNH rồi phải không cưng? Cho nên CÓ GÌ THẤY NẤY là cách thấy của các bậc THÁNH đấy.

 Hỏi: Có người dạy thiền là tâm không phân biệt Tốt Xấu, thầy có thể cho ý kiến gì về việc này?

Đáp:

Đừng  thành kẻ NGU mà nhắm mắt không biết phân biệt giữa TỐTXẤU! Nhưng mỗi khi đã CÓ SAO THẤY VẬY thì cũng như bậc có RAU ăn RAU có CHÁO ăn CHÁO. RAU CHÁO gì cũng NGON cả. Như vậy dầu biết phân biệt RAU CHÁO khác với THỊT THÀ, nhưng tâm vẫn BÌNH ĐẲNG vui vẻ như nhau. Đó mới là thiệt HAY. Hay hơn cả ăn được THỊT THÀ. Xin đừng U MÊ mà đồng hóa sự BÌNH ĐẲNG của TRÍ TUỆ (vẫn có sự biết phân biệt) với sự BÌNH ĐẲNG của ĐUI MÙ (không biết phân biệt)

Hỏi: anh có ý kiến gì về chuyện ăn thịt loài vật?

Đáp:

Khi bao nhiêu người phát nguyện ăn chay (như nhiều tôn giáo), thì cũng đã có biết bao nhiêu chúng sanh loài vật bớt bị giết một cách đau khổ. Nếu bạn quán tưởng đến những đau đớn của loài vật khi bị CẮT DA, XẺ THỊT, nhúng NƯỚC SÔI, CẮT CỔ, v.v. thấy chúng vùng vẫy một cách vô vọng thì còn đáng thương hơn cả những em bé nghèo khổ nữa. Chúng bị KHỔ ĐAU mà không thể phản đối gì được. Biết đến chừng nào loài người mới biết thương chúng. Cho nên mỗi lần nghĩ đến những KHỔ ĐAU của các chúng sanh đang bị đọa làm SÚC SANH, thì tôi thấy rất thương những người ăn chay và các chúng sanh khác.

Hỏi:  em thấy mình lúc nào cũng cô độc, lẻ loi mặc dù có gia đình bên cạnh, mặc dù có cuộc sống ấm no, mặc dù có nhiều người thân, bạn bè yêu thương quý mến… nhưng vẫn cảm thấy rất cô đơn … cảm thấy lạc lõng, ko biết mình từ đâu đến, và đến cái thế giới này để làm gì…

Đáp:

Ồ, sao em giống anh hổi nhỏ quá vậy? Cái đó chứng tỏ em có một đời sống nội tâm mạnh và cao hơn người đời. Bởi vì những kiếp xa xưa mình đã là dân có sự tu hành, nên những cái mà người đời ham muốn, thì mình lại thấy tầm thường nên ít quan tâm như họ. Do đó mà mình thấy cô đơn vì không hoàn toàn hợp với họ. Rồi những thắc mắc của mình như “mình từ đâu đến?”, “sinh ra để làm gì?”, “chết rồi đi về đâu?” v.v. đều là những bài toán mà mình đã cố tìm lời giải từ các kiếp trước, nhưng giải chưa ra. Nên kiếp này vẫn còn tiếp tục thắc mắc đi tìm. Với ai có nhiệt tâm tìm kiếm cho tới cùng, thì thế giới bên trên sẽ tạo nhân duyên cho mình dần dần đi vào được CHÁNH ĐẠO để thấy rõ các lời giải. Nhất là với những ai đã có niềm tin vào PHẬT và có sự thiết tha cầu PHẬT rằng: “cho con tìm được CHÁNH ĐẠO và chỉ có CHÁNH ĐẠO mà thôi”. Với một lời nguyện khắc ghi như vậy và với những người có căn cơ TRÍ TUỆ, biết nhận xét, cọng với căn cơ ÍT THAM ÁI, khó bị dụ dỗ, thì trước sau cũng sẽ tìm được và nhập được vào CHÁNH ĐẠO của PHẬT.

Đó là giờ phút chứng được quả “NHẬP LƯU” (Tu Đà Hoàn), biết mình đã nhập được vào giòng TRI KIẾN của chư PHẬT, không thể bị LẠC vào các TÀ đạo nữa. Từ đó, chỉ còn luân hồi tối đa là 7 kiếp sống nữa thôi, thì sẽ hoàn toàn CHỨNG ĐẠO và hoàn toàn được GIẢI THOÁT. Điều này anh đã đạt được rồi, nên mới biết rõ ràng để nói với em và các bạn như vậy.

Hỏi: Tại sao có nhiều pháp tu hành nhiều người đang theo lại khác xa pháp tu của Phật vậy? Ví dụ như pháp tu của bà Thanh Hải.

Đáp:

Vì bản chất của pháp tu là để thỏa mãn những ham muốn của BẢN NGÃ chứ chưa phải là một pháp tu để thấy rõ THỰC TƯỚNG của BẢN NGÃ, để hiểu rõ những nguyên nhân của KHỔ ĐAU. Cái cách chấm dứt KHỔ ĐAU của những pháp tu tìm về THIÊN ĐÀNG, tìm về THIÊN QUỐC thì cũng giống như những người đi LÀM GIÀU trên thế gian này vậy thôi. Nếu thành công thì cũng sẽ sung sướng hơn người khác. Nhưng dầu GIÀU vẫn chưa thực sự hết KHỔ.

Người thực sự hết KHỔ là người phải đạt được HẠNH PHÚC VÔ ĐIỀU KIỆN, bất chấp mọi hoàn cảnh sống, bất chấp sống ở cảnh giới nào. Mình phải tự chủ được cả KHỔ ĐAU và HẠNH PHÚC. Người có TRÍ TUỆ thì phải thấy GỐC CỘI KHỔ ĐAU là ở trong mình. Phải thấy rằng chính mình làm mình KHỔ, chứ không do điều kiện bên ngoài. Muốn được như vậy thì mình phải tìm hiểu thật rõ về chính mình trước. chứ không phải mất thì giờ luyện tập để đạt được những gì mình ham muốn. Vì nếu cứ sống cho THAM ÁI của BẢN NGÃ thì mình sẽ không bao giờ hiểu được chính mình cả.

Cho nên sự khác biệt giữa THIỀN TRÍ TUỆ của PHẬT và THIỀN THAM ÁI của các pháp tu không thể chấm dứt KHỔ là ở chỗ: THIỀN TRÍ TUỆ của PHẬT là để phát triển TRÍ TUỆ hiểu rõ về mình. Nguyên tắc thực hành thì hết sức giản dị: YÊN TĨNH QUAN SÁT CHÍNH MÌNH (Thiền định và Thiền Quán). Còn THIỀN THAM ÁI thì có tính cách LUYỆN TẬP BẢN NGÃ để đạt được những điều mình thích.

Sau cùng, với sự GIÁC NGỘ của PHẬT, PHẬT thấy THƯỢNG ĐẾ là TÀ KIẾN. Trong khi THANH HẢI lại chưa sạch TÀ KIẾN nên còn quảng cáo “CẦU THÔNG THƯỢNG ĐẾ”. Điều đó cho thấy THANH HẢI chưa được GIÁC NGỘ như PHẬT.

Hỏi:  tôi đọc sách thì thấy người ta nói về Diệt Thọ Tưởng Định, rồi Niết Bàn, thấy cũng khó hiểu. Xin hãy nói cho rõ ràng với vấn đề này, đừng trốn tránh.

Đáp:

DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH là một trạng thái ĐỊNH độc lập với THỌ CẢM, và TƯ TƯỞNG. Trạng thái ĐỊNH đó chỉ có thể đạt được bởi một bậc VÔ NGÃ mà thôi. Vì bậc VÔ NGÃ đã có khả năng độc lập với tất cả NGỦ UẨN: SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC. Tuy nhiên không cần nhập định DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH mới ở trong NIẾT BÀN. Mà khi đã sống trong VÔ NGÃ là đã sống trong NIẾT BÀN. Vì sống trong VÔ NGÃ thì KHÔNG CÒN KHỔ và không còn những NGUYÊN NHÂN để KHỔ có thể sinh trở lại (vì đã hết VÔ MINH, CHẤP NGÃ, hết ÁI, THỦ, HỮU).

1) Tôi đã nói rõ rồi: NIẾT BÀN có nghĩa là HẾT KHỔ. Chỉ giản dị thế thôi. Chứ không phải là một CỎI GIỚI NIẾT BÀN. Bậc GIÁC NGỘ khi đã sống trong VÔ NGÃ thì dầu ở nơi đâu cũng không còn KHỔ nữa, thì kể như đã sống trong NIẾT BÀN. Tuy ở trong TAM GIỚI nhưng không còn ôm thủ PHÁP HỮU VI (NGỦ UẨN) cho nên kể như đã ra ngoài TAM GIỚI.
2) Ngay trong cỏi KHỔ mà KHÔNG KHỔ thì mới xứng đáng gọi là NIẾT BÀN. Vì nếu phải di tản ra một cỏi khác mới hết KHỔ thì NIẾT BÀN đó là NIẾT BÀN có ĐIỀU KIỆN. Mà cái gì CÓ ĐIÊU KIỆN thì cái đó không bền vững, vì khi ĐIỀU KIỆN HẾT được THỎA MÃN thì tình trạng phải bị thay đổi. Chứ nếu trong KHỔ mà vẫn NIẾT BÀN thì NIẾT BÀN làm sao làm sao còn thay đổi được. Như vậy NIẾT BÀN mới xứng đáng là HẠNH PHÚC BỀN BĨ.
3) Nếu NIẾT BÀN là một cỏi giới khác ngoài TAM GIỚI thì BIÊN GIỚI của nó với các cỏi TAM GIỚI làm sao giữ gìn? để KHỔ từ bên này khỏi tràn qua bên kia?

Hỏi: con thấy nhiều người ăn nói rất cao siêu, đầy tình thương, rồi khi đụng chuyện thì trở nên rất ghê sợ. Sao đây thầy?

Đáp:

Đó là trình độ LUÂN LÝ của TƯ TƯỞNG vẻ vời ra cốt LÀM ĐẸP cho BẢN NGÃ mà thôi. Mà TƯ TƯỞNG thì cũng chỉ là một pháp HỮU VI còn VÔ THƯỜNG, BIẾN ĐỔI, khi thế này khi thế khác, cho nên không chắc lắm đâu. Thiếu gì người nói hay mà khi đụng trận lại làm không được. Chỉ vì còn ở trình độ vẻ vời của pháp VÔ THƯỜNG (TƯ TƯỞNG) và của BẢN NGÃ. Cũng bởi lý do đó mà thiếu gì tôn giáo cùng tôn thờ THƯỢNG ĐẾ, cùng đưa ra LUÂN LÝ TÌNH THƯƠNG. Thế nhưng vẫn CẠNH TRANH nhau, chống đối nhau, đôi khi còn đi đến THÁNH CHIẾN, tàn sát nhau không gớm tay. Chỉ vì họ chưa ra khỏi BẢN NGÃ. Trái lại những lời giáo huấn trong LUẬN BẢO VƯƠNG TAM MUỘI:
Lấy PHIỀN NÃO làm BỒ ĐỀ
Lấy MA VƯƠNG làm BẠN ĐẠO
Lấy KẺ CHỐNG ĐỐI làm NƠI GIAO DU
là đã vào trình độ của các vị BỒ TÁT đã GIÁC NGỘ VÔ NGÃ. Nhờ VÔ NGÃ cho nên những tấn công của PHIỀN NÃO, MA VƯƠNG, KẺ CHỐNG ĐỐI, đều đã bị vô hiệu quả vì không còn đối tượng. Cho nên nếu chưa đạt VÔ NGÃ thì chưa thể có TỪ BI và NHẪN NẠI CHÂN THẬT được đâu.
Nguyên Hải (GS001) – (Xin vào trang batchanhdao.wordpress.com để xem cập nhật mới nhất của các bài viết)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: