RSS

Đàm luận Phật Pháp (Bài 1)

10 Aug

Trong bài viết này mời các bạn nghe thầy Nguyên Hải trả lời những câu hỏi thắc mắc của các Phật tử khắp nơi. Có vài câu hỏi ở mức nâng cao. Các câu hỏi này như sau:

Hỏi: Pháp vô vi và pháp hữu vi là gì?

Hỏi: Vạn Vât  xưa nay luôn biến động VÔ THƯỜNG, nay cũng vậy mà từ bao giờ cũng vậy. VÔ THƯỜNG là một sự thật bất sanh bất diệt, vô thủy vô chung. Đúng không?

Hỏi: Nguyên nhân sinh diệt của vạn pháp?

Hỏi: Phật Giáo nói: “Nhất thiết vi tâm tạo,” tâm có thể sáng tạo muôn loài. Tâm hoặc Đạo có thể tạo ra bất cứ vạn vật nào, cả hai đều cùng một ý nghĩa?

Hỏi: Tôi tu hành là để đạt trạng thái thân, khẩu, ý thanh tịnh. Đủ chưa?

Hỏi: Đối với ai còn hoài nghi về Phật Pháp Tăng thì thầy có lời khuyên gì cho họ?

Hỏi: Ngũ uẩn giai không là ý gì?

Hỏi: Có thể chia sẽ thêm sự hiểu biết của thầy về chánh pháp của Phật được không?

Hỏi: Chánh Kiến và Tà Kiến?

Hỏi: Chư Phật thường dạy cái gì?

Hỏi:  Thế nào là giác ngộ trong đạo Phật

Hỏi: Thế nào là vô minh?

Hỏi: Pháp vô vi và pháp hữu vi là gì?

Đáp:

Vì lý do thời gian và cuộc sống bị hạn hẹp, vì lý do trí tuệ chúng sanh bị giới hạn, Đức Thế Tôn chỉ nói những điểm chính yêu, chứ không thể nói đủ mọi thứ từ tổng quá đến chi tiêt. Cho nên khi chúng ta học đạo, muốn có sự tăng tiến, chúng ta phải sử dụng thêm CHÁNH TƯ DUY để tạo thêm những CHÁNH KIẾN mới từ những CHÁNH KIẾN đã học được từ Đức Thế tôn.

Ví dụ sau khi đã học được định nghĩa của Đức thế tôn về PHÁP HỮU VI rằng: là pháp có sinh có diệt có vô thường biến đổi, thì bằng CHÁNH TƯ DUY tôi suy ra PHÁP VÔ VI là những gì không thuộc PHÁP HỮU VI. Vì trên thế gian này mọi pháp hoặc là HỮU VI, hoặc là VÔ VI, chứ không còn pháp nào ngoài hai pháp đó.

Do đó ta có thể định nghĩa PHÁP VÔ VI là pháp không sanh (vô sanh, no beginning) là pháp không diệt, là pháp không tăng không giảm. Do đó PHÁP VÔ VI không những chỉ liên hệ tới NIẾT BÀN, không còn THAM, SÂN, SI, mà bao hàm luôn cả các SỰ THẬT tuyệt đối như LUẬT NHÂN QUẢ, VÔ THƯỜNG, KHỔ, VÔ NGÃ, trong đó kể cả TRÍ TUỆ BÁT NHÃ là trí tuệ giúp cho chúng sanh biết phân biệt KHỔ ĐAU, nhận ra sự thật NHÂN QUẢ để từ đó có sự tiến hóa từ KHỔ cho đến NIẾT BÀN.

Nhờ diễn đạt như thế về LUẬT NHÂN QUẢ tôi mới có thể trả lời thỏa đáng cho một ông thần học của đạo Kitô, cho rằng THƯỢNG ĐẾ sinh ra LUẬT NHÂN QUẢ. Tôi đã trả lời cho ông ta rằng, thê gian này có 2 loại pháp, HỮU VI và VÔ VI. HỮU VI thì “do duyên sanh”. VÔ VI là các pháp không có khởi đầu, không sinh không diệt. LUẬT NHÂN QUẢ là pháp VÔ VI cho nên đừng thắc mắc LUẬT NHÂN QUẢ do đâu ra. Nghe như thế ông ta đã có vẻ bị thuyết phục.

 

Hỏi: Vạn Vât  xưa nay luôn biến động VÔ THƯỜNG, nay cũng vậy mà từ bao giờ cũng vậy. VÔ THƯỜNG là một sự thật bất sanh bất diệt, vô thủy vô chung. Đúng không?

Đáp:

Đúng!

Điều này có thể chứng minh được bằng luận lý của khoa học, cho dầu ta không thể thấy được về quá khư xa xưa. Tiến trình của lý luận đó như sau:
1) By definition, Vũ trụ là một hệ thống kín hoàn hảo (a perfect closed system). Vì không còn có gì ở bên ngoài vũ trụ để tác động vào nó.
2) Trong một hệ thống kín, nếu nó đã đạt được trạng thái yên tĩnh thì trạng thái yên tĩnh sẽ được duy trì mãi mãi.
3) Thế nhưng hiện tại vũ trụ chưa yên tĩnh thì chứng tỏ rằng trước đây vũ trụ chưa có lần nào yên tĩnh cả. Như vậy thì nó phải luôn luôn biến động từ trước cho đến bây giờ.
Điều đó cũng chứng tỏ rằng vạn vật đã luôn luôn có mặt để tạo sự biến động. Chưa hề có thời điểm vũ trụ trống không để đi từ KHÔNG ra CÓ. Chứng tỏ chuyện creation của lão GOD TÀO LAO chưa bao giờ có. Cho nên GOD là một chuyện TÀO LAO nhất trong lịch sử của nhân loại.

KẾT LUẬN: GOD là một “TẠO VẬT” của những kẻ VÔ MINH.

ĐỊNH ĐỀ: Trong một KHÔNG GIAN (domain, space) kín, KHÔNG CÓ TÁC ĐỘNG từ BÊN NGOÀI. Nếu vào thời điểm t nó TĨNH, thì vào thời điểm t+ sau đó, nó cũng phải TĨNH.

ĐỊNH LÝ: Nếu vào thời điểm t nó (một không gian kín) ĐỘNG, thì vào thời điểm t- trước đó, nó cũng phải ĐỘNG..

(Chứng minh: vì nếu ở t- nó TĨNH thì theo ĐỊNH ĐỀ trên, ở tại t nó cũng phải TĨNH).
Chiêm nghiệm cho kỷ đi cưng. Và để ý rằng TOÀN THỂ VŨ TRỤ (the UNIVERSAL UNIVERSE) kể như là một KHÔNG GIAN KÍN vì ngoài nó không còn có thế giới nào nữa để tác động lên nó.

Như vậy NẾU VŨ TRỤ đang là VÔ THƯỜNG (ĐỘNG) thì TỪ XƯA NAY nó đã VÔ THƯỜNG (ĐỘNG) như vậy rồi. Hiểu được điều đó thì GIÁC NGỘ được rằng VŨ TRỤ KHÔNG CÓ KHỞI ĐẦU, Không có chuyện từ TĨNH ra ĐỘNG, không có chuyện từ KHÔNG ra CÓ. không có GOD TÀO LAO sinh ra cái gì, không có chuyện BIG BANG SINH RA TOÀN THỂ VŨ TRỤ (the UNIVERSAL UNIVERSE).

Hỏi: Nguyên nhân sinh diệt của vạn pháp?

Đáp:

Đức PHẬT tóm tắt nguyên nhân sinh diệt của vạn pháp chỉ trong hai câu:

CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH
DUYÊN DIỆT CÁC PHÁP DIỆT.

Hoặc nếu coi DIỆT cũng như một sự kiện phát sinh mới, thì chỉ cần một câu: “CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH“. Tức mọi sự kiện xảy ra do đã có nhân duyên đầy đủ nên mới xảy ra (chứ không do một GOD TÀO LAO nào hết). Mưa cũng vậy, Nắng cũng vậy, sống chết, hợp rồi tan, đến rồi đi, trên cuộc đời này đều như vậy.

Tiếng sáo phát ra đúng với các notes nhạc cũng chẳng phải chỉ do một điều kiện ống rỗng, mà còn phải có gió thổi vào, mà còn phải đục lỗ đúng với các tones. Đó là tất cả các duyên để tạo ra tiếng sáo.

Rồi TRÚC của sáo, rồi GIÓ thổi vào sáo… còn do nhiều DUYÊN khác nữa. Như vậy cứ suy ra là TRÙNG TRÙNG DUYÊN KHỞI, không có khởi đầu (no beginning). Nhưng trong những hệ thống KÍN (ví dụ trong bầu khí quyển của quả địa cầu) thì các DUYÊN và PHÁP có tính cách LUÂN HỒI. Do dó mới có Xuân, Hạ, Thu, Đông hoặc Mưa, Suối, Sông, Biển rồi trở lại Mây, Mưa.

Hiểu được CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH để được lợi ích gì?

— Để không trách móc với bất kì chuyện gì khi nó đã xảy ra

Chuyện ta mong muốn hơn đã không xảy ra tại vì nó không được đủ duyên như chuyện đã xảy ra. Như vậy nếu ai cứ bực mình mà trách chuyện xảy ra thì chẳng khác gì một kẻ u mê vô lý, cứ trách tại sao hôm nay trời MƯA không chịu NẮNG? NẮNG đã không xảy ra tại vì đã không đủ duyên. Mưa xảy ra vì nó đã đầy đủ duyên.

Ai tư duy LÝ DUYÊN KHỞI sâu sắc hơn nữa, cho đến độ rốt ráo thì sẽ giác ngộ thêm lý VÔ VI, VÔ NGÃ, và CHÂN NHƯ (as is) để lòng luôn được luôn an nhiên tự tại trong cuộc sống. Không có chuyện gì có thể làm cho mình bực lòng hay lo lắng.

Ai thấy được LÝ DUYÊN KHỞI tức là thấy PHÁP thấy PHẬT:

Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy. Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử.

(Kinh Đại Duyên (15), Trường bộ kinh)

Hỏi: Phật Giáo nói: “Nhất thiết vi tâm tạo,” tâm có thể sáng tạo muôn loài. Tâm hoặc Đạo có thể tạo ra bất cứ vạn vật nào, cả hai đều cùng một ý nghĩa.

Đáp:

1)      Trong thế giới HỮU HẠN thì có ĐẦU có CUỐI nhưng trong thế giới VÔ HẠN thì không bao giờ có đầu có cuối.
2) Chúng sanh từ vô thủy, do sự thấy (tri kiến) bị hữu hạn, nên đã quen với THỨC TÁNH có ĐẦU có CUỐI do đó mới tưởng cái gì cũng có KHỞI ĐẦU.
3) Từ TÀ KIẾN có KHỞI ĐẦU mới có những giả thiết cho rằng do GOD tạo, do TÂM tạo, do THÁI CỰC tạo, do HƯ KHÔNG tạo, v.v.
4) Nếu do một cái gì tạo, thì tại sao không hỏi tiếp cái đó do gì tạo? Nếu nó không do gì tạo thì rốt cuộc cũng chấp nhận KHÔNG KHỞI ĐẦU (no beginning).
5) Cho nên KHÔNG KHỞI ĐẦU rốt cuộc ai cũng phải chấp nhận, không có gì là vô lý cả. Vã lại trong thực tế, có cái gì thiệt sự có khởi đầu đâu? Như vậy thì vũ trụ không có khởi đầu thì cũng thế thôi.
6) Với các pháp HỮU VI có sinh có diệt thì PHẬT dạy: “CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH” tức các pháp tương tác lẫn nhau mà sinh ra hoặc diệt đi các pháp khác.
7) Trong một hệ thống kín hoặc gần như kín, ví dụ bên trong bầu khí quyển của trái đất, thì sự tương tác lẫn nhau có tính cách luân hồi. Do vậy mà có chu kỳ xuân hạ thu đông, hoặc mưa thành sông chảy ra biển rồi lại bốc hơi sinh mưa trở lại. Hoặc như chính ta, nếu không thể đi đâu xa thì cũng thường LUÂN HỒI qua về giữa MỸ và VN mà thôi.
8) Hễ thế giới có sự giới hạn và có sự ràng buộc (attachment) thì có LUÂN HỒI. Giới hạn chật thì luân hồi nhanh. Giới hạn rộng thì luân hồi chậm.
9) Phật cũng còn tuyên bố CÁC PHÁP VÔ SANH. Tức mọi pháp (hữu vi và vô vi) đều KHÔNG CÓ KHỞI ĐẦU.
Ai thấu hiểu những điều ở trên kể như đã chứng quả: VÔ SANH PHÁP NHÃN (thấy rõ vạn pháp không có khởi đầu) và dứt sạch TÀ KIẾN về THƯỢNG ĐẾ.

Hỏi: Tôi tu hành là để đạt trạng thái thân, khẩu, ý thanh tịnh. Đủ chưa?

Đáp:

Muốn đạt trạng thái THANH TỊNH, thì phải biết nguyên do từ đâu mà mình thành ĐỘNG. Có biết điều đó mới có thể chấm dứt sự ĐỘNG để được THANH TỊNH vững chắc. Cũng như một bệnh nhân muốn lành thì phải biết nguyên do từ đâu mà mình bị bệnh. Biết rồi mới chửa dứt cái nguyên do sinh bệnh mới hết được bệnh. Chứ đâu phải muốn khơi khơi được lành thì sẽ lành.

Bênh sinh ra theo luật NHÂN QUẢ mà bệnh được chửa lành cũng phải theo luật NHÂN QUẢ. Đạo PHẬT khác với các tôn giáo khác ở chỗ đó. Đạo nào cũng tuyên bố là đạo CỨU KHỔ. Âý thế các tôn giáo khác không hề nói tới, không hề biết tới NGUYÊN DO KHỔ ĐAU. Như vậy sự cứu khổ của họ khác gì sự chửa bệnh của mấy ông lang băm, cứ chửa càng chửa đại, chả cần biết nguyên do của bệnh do đâu.

Trái lại ĐẠO PHẬT là đạo duy nhất có TỨ DIỆU ĐẾ, phân tích rành mạch KHỔ, NGUYÊN DO CỦA KHỔ, NIẾT BÀN và, CÁCH THỨC ĐẠT ĐẾN NIẾT BÀN. Như vậy sự CỨU KHỔ của ĐẠO PHẬT đâu khác gì sự chửa bệnh của một ông bác sĩ uyên bác về bệnh hoạn.

Cho nên nếu ai hỏi các PHẬT TỬ tại sao các bạn chọn ĐẠO PHẬT mà không chọn đạo khác thì phải nêu lên sự khác biệt về TỨ DIỆU ĐẾ như thế. Ai tuyên xưng là đấng ĐẠO SƯ thì cũng phải biết rành rẽ về 4 sự thật của TỨ DIỆU ĐẾ mới xứng đáng là bậc ĐẠO SƯ.

Hỏi: Đối với ai còn hoài nghi về Phật Pháp Tăng thì thầy có lời khuyên gì cho họ?

Đáp:

1)Trước hết là nên đọc nhiều KINH TẠNG của PHẬT để bồi đắp CHÁNH KIẾN tạo thành vốn liếng quí giá để CHÁNH TƯ DUY sau này. Nên nhớ thuộc lòng đầy đủ các chi của TỨ DIỆU ĐẾ (gồm những gì,) BÁT CHÁNH ĐẠO, TỨ NIỆM XỨ, 37 PHẨM TRỢ ĐẠO, 12 NHÂN DUYÊN. Và quan trọng nhất là giữ vững trong tay cái chìa khóa: “CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH“, để chấm dứt cái TÀ KIẾN về GOD TÀO LAO từ vô thủy đến giờ.
2) Thực hành chuyên cần CHÁNH NIỆM, TỨ NIỆM XỨ với tinh thần khách quan TÌM HIỂU CHÍNH MÌNH như một khoa học gia. Cũng là để tìm hiểu về GỐC CỘI KHỔ ĐAU của chính mình.

Hỏi: Ngũ uẩn giai không là ý gì?

Đáp:

1) Trước hết phải hiểu NGỦ UẨN GIAI KHÔNG có nghĩa là NGỦ UẨN VÔ NGÃ. Có nghĩa là tất cả SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC không có thứ nào là CỦA TA, DO TA (làm ra), hoặc là CHÍNH TA. Và NGỘ là sự nhận ra, khám phá ra một sự thật, mà sự thật ở đây là sự thật VÔ NGÃ. Đó là một sự thật mà từ trước tới nay ta chưa hề nghĩ tới, chưa hề thấy, chưa hề biết bao giờ.

2) Sau đó lấy từng phần ra mà xét. Ví dụ về SẮC, tức là phần vật chất hay chính là thân xác. Thân xác có hơn 75% là NƯỚC. NƯỚC đâu phải CỦA TA, DO TA (làm ra) hoặc là CHÍNH TA. Những chất còn lại, hữu cơ (organic), vô cơ (inorganic) thì cũng vậy thôi. Nếu thân thiệt là CỦA TA thì hẳn đã theo ý ta để không bệnh, không già, không chết rồi.

3) Rồi 4 uẩn còn lại, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC, khi đem ra phân tích cho kỷ cũng sẽ thấy đều VÔ NGÃ như thế. Ai thực hành thiền TỨ NIỆM XỨ để khảo sát chính con người của mình sẽ tự mình thấy rõ 5 uẩn đều VÔ NGÃ để không còn chút nghi ngờ. Sẽ thấy rõ tất cả đều DO DUYÊN SINH tức do các pháp khác sinh ra, chẳng liên quan gì tới TA hết.

Hỏi: Có thể chia sẽ thêm sự hiểu biết của thầy về chánh pháp của Phật được không?

Đáp:

1)      CHÁNH PHÁP là những phương pháp tu hành đưa chúng sanh đến đúng mục tiêu NIẾT BÀN, tức có khả năng tận diệt sự KHỔ.

Nếu pháp tu không đi đến đúng mục tiêu NIẾT BÀN mà bị chệch hay bị sai hướng thì đó là TÀ PHÁP.

2) NIẾT BÀN là khi KHỔ đã tận diệt. Mà khổ chỉ được tận diệt khi chúng sanh chứng ngộ VÔ NGÃ, thấy mình không còn hiện hữu để chịu khổ.

3) Do đó pháp tu nào giúp chúng sanh chứng ngộ VÔ NGÃ thì pháp tu đó là CHÁNH PHÁP. Trái lại pháp tu nào không giúp chúng sanh ra khỏi NGÃ CHẤP, ÁI, THỦ, HỮU thì không phải là CHÁNH PHÁP.

4) TỨ NIỆM XỨ, BÁT CHÁNH ĐẠO, TỨ DIỆU ĐẾ, v.v. đều thuộc về CHÁNH PHÁP vì có khả năng giúp chúng sanh chứng ngộ VÔ NGÃ, thê nhập NIẾT BÀN.

Hỏi: Chánh Kiến và Tà Kiến?

Đáp:

PHẬT phân biệt CHÁNH KIẾN (đúng sự thật) và TÀ KIẾN (sai sự thật). KIẾN THỨC nào, nếu là tập hợp của những CHÁNH KIẾN thì không có hại gì cả. Không cần dẹp bỏ. Do đó PHẬT GIÁO không chống đối khoa học. Đó là lý do tôi chống Thiền Tông Trung Hoa với chủ trương DẸP BỎ TRI KIẾN để hổ trợ cho pháp tu VÔ NIỆM của họ. Pháp tu CHÁNH NIỆM của PHẬT không dẹp bỏ tri kiến, không dẹp bỏ niệm khởi nào cả.

Tuy nhiên chúng sanh nếu bị giáo dục hoặc bị nhồi sọ với những TÀ KIẾN không đúng sự thật thì những kiến thức đã học trong các hệ thống đó, đáng được gột bỏ. Nếu không thì họ sẽ có cái nhìn lệch lạc mọi vấn đề rồi suy đoán sai thêm nhiều chuyện khác. Ví dụ một người đã được huấn luyện tin GOD thì cái chuyện gì cũng cứ nghĩ do GOD tạo nên, không chịu thấy NHÂN DUYÊN làm cho sự kiện xảy ra để sửa đổi hay ngăn chận sự tái diễn.

Ngoài ra chúng sanh cũng có thể có cái nhìn bị lệch lạc do THỨC TÁNH tạo ra bởi môi trường và tập quán sống. Ví dụ một chúng sanh sinh ra làm người TÀU, quen nghe âm nhạc Tàu, không quen nghe không quen hiểu âm nhạc các nước khác, rồi tưởng âm nhạc TÀU hay nhất thiên hạ. Thì đó là một quan kiến do THỨC TÁNH sinh ra. Đa số chúng sanh có phán đoán lệch lạc là do các NHÃN THỨC, NHĨ THỨC, TỈ THỨC, THIỆT THỨC, THÂN THỨC, và Ý THỨC xây dựng nên từ môi trường sống của mình.

Cũng vậy cái quan kiến CÓ KHỞI ĐẦU là do xưa nay có cái thấy hạn hẹp đã quen rồi, thấy cái cái gì cũng có đầu có cuối. Cho nên khi nghe nói “KHÔNG CÓ KHỞI ĐẦU” thì thấy ngờ ngợ. Đó là một loại quan kiến do THỨC TÁNH sinh ra. Ngoài ra chúng sanh còn có NGHIỆP THỨC cũng có thể làm cho sự thấy không được chính xác. Ví du như loài CÁ thì thấy nước như KHÔNG KHÍ. Loài BƯỚM thì thấy NƯỚC như  SẮT THÉP, đụng vào là tan nát hình hài.

Hỏi: Chư Phật thường dạy cái gì?

Đáp:

HẠNH PHÚC VĨNH CỮU hay là NIẾT BÀN đó chính là sự CHẤM DỨT ĐAU KHỔ chứ không phải bất cứ một thứ hạnh phúc ngắn hạn nào mà người tu THIỀN có thể hưởng được rồi cũng bị mất đi như bao thứ hạnh phúc khác trên cuộc đời này. Rốt cuộc ĐAU KHỔ (mà cụ thể là SINH, LÃO, BỆNH, TỬ) vẫn hoàn ĐAU KHỔ.

Nếu TU mà chỉ để đạt được những HẠNH PHÚC NGẮN NGỦI thì nào hơn gì những kẻ tìm đến chốn CA NHẠC, ĂN CHƠI, GIẢI TRÍ? Người TU có TRÍ TUỆ phải biết rằng mình tu là đi tìm con đường CHẤM DỨT sự KHỔ (giống như ĐỨC PHẬT đã làm) và người THẦY phải là người đã TÌM RA và có thể CHỈ RÕ tường tận con đường đó.

Một vị thầy gọi là CHÂN SƯ phải là một vị chỉ được rõ ràng con đường TẬN DIỆT ĐAU KHỔ. Cũng như một ông BÁC SĨ GIỎI phải là người có khả năng CHỬA LÀNH BỆNH và chỉ rõ NGUYÊN NHÂN của BỆNH và phương cách tận diệt, để những NGUYÊN NHÂN đó không thể xảy ra lại được nữa.

Những người chỉ quảng cáo PHƯƠNG PHÁP tu của mình mà không phân tích những KHỔ ĐAU và NGUYÊN NHÂN KHỔ ĐAU của chúng sanh thì chẳng khác gì những ông quảng cáo thuốc CAO ĐƠN HOÀN TÁN, TAM TINH HẢI CẨU BỔ THẬN HOÀN cả. Chỉ biết về thuốc của mình mà chưa rõ BỆNH của thiên hạ. Mấy thuốc đó uông vào không chửa sạch BỆNH.

CHƯ PHẬT sau khi thành đạo luôn luôn thuyết giảng cho chúng sanh rõ về TỨ DIỆU ĐẾ. Ai chưa nắm vững và chưa giảng rõ về 4 chân lý này thì tôi biết là người chưa ĐẮC ĐẠO, chưa tìm ra được LỜI GIẢI cho BÀI TOÁN KHỔ của chúng sanh. Đó là phương cách hay nhất để EVALUATE một vị SƯ PHỤ. Thật rất quan trọng để biết cách EVALUATE một vị SƯ PHỤ. Nếu lầm lẫn mình sẽ bị phí ít nhất một kiếp làm người. Hãy nghe lại lời xác chứng của ĐỨC PHẬT về sự ĐẮC ĐẠO là như thế nào:

“Này hỡi các Tỳ Khưu, ngày nào mà tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp thánh đế, dưới ba sắc thái và mười hai phương thức chưa được hoàn toàn sáng tỏ thì, cho đến chừng ấy, Như Lai không xác nhận trước thế gian gồm chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên, giữa các chúng sa môn, bà la môn, Trời và người, rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (anuttaram samma-sambodhim).

Đến khi, này hỡi các Tỳ Khưu, tri kiến tuyệt đối như thực của Như Lai về bốn pháp thánh đế, dưới ba sắc thái và mười hai phương thức, đã trở nên hoàn toàn sáng tỏ, chỉ đến chừng ấy, Như Lai mới xác nhận trước thế gian gồm chư Thiên, Ma Vương và Phạm Thiên, giữa các chúng sa môn, bà la môn, Trời và người, rằng Như Lai đã chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”

(Kinh Chuyển Pháp Luân)

Thân ái.

Hỏi:  Thế nào là giác ngộ trong đạo Phật

Đáp:

Chữ GIÁC NGỘ đã bị lạm dụng quá nhiều rồi
cho nên hôm nay tôi phải định nghĩa cho rõ ràng
GIÁC NGỘ có ý nghĩa như thế nào ở trong ĐẠO PHẬT.

ĐỨC PHẬT từ bỏ cung vàng điện ngọc ra đi
để tìm LỜI GIẢI cho BÀI TOÁN KHỔ của chúng sanh.
Do đó sự GIÁC NGỘ của ngài là khi:

LỜI GIẢI cho BÀI TOÁN KHỔ đã tìm ra.

Như vậy kẻ nào chưa giải quyết được bài toán KHỔ
thì chưa thể gọi là bậc GIÁC NGỘ.
Căn bản chỉ là thế thôi.

ĐỨC PHẬT giải được BÀI TOÁN KHỔ nhờ ngài tìm ra được 4 SỰ THẬT gọi là TỨ THÁNH ĐẾ (TỨ DIỆU ĐẾ)

1) SỰ THẬT về KHỔ
2) SỰ THẬT về NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ
3) SỰ THẬT về NIẾT BÀN
4) SỰ THẬT về CON ĐƯỜNG ĐI ĐẾN NIẾT BÀN, tức BÁT CHÁNH ĐẠO.

Như vậy một bậc gọi là GIÁC NGỘ thì phải nắm vững 4 SỰ THẬT trên. Thấy rõ được 4 SỰ THẬT trên, mới có thể giải được bài toán KHỔ. Chưa nắm vững 4 SỰ THẬT trên thì vẫn chưa thể ra khỏi KHỔ và như vậy có nghĩa là CHƯA GIÁC NGỘ.

 

Hỏi: Thế nào là vô minh?

Đáp:

VÔ MINH có nghĩa là CHƯA GIÁC NGỘ và còn sống trong KHỔ ĐAU.
Hay nói cách khác:
VÔ MINH là chưa nắm vững 4 CHÂN LÝ của TỨ THÁNH ĐẾ

1) Vì chưa nắm vững SỰ THẬT về KHỔ nên nhiều khi sống trong KHỔ mà tưởng là SƯỚNG.
2) Vì chưa nắm vững SỰ THẬT về NGUYÊN NHÂN SỰ KHỔ nên không biết cách cắt đứt SỰ KHỔ
3) Vì chưa nắm vững SỰ THẬT về NIẾT BÀN nên nhiều tôn giáo nhắm đến những mục tiêu sai lạc (tà kiến)
4) Vì chưa nắm vững SỰ THẬT về CON ĐƯỜNG BÁT CHÁNH ĐẠO nên đường tu mông mênh.

“Này các Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này các Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh.”

Để ý rằng NIẾT BÀN chỉ có nghĩa giản dị là KHỔ DIỆT tức lúc KHỔ đã hoàn toàn được TẬN DIỆT.

Thầy Nguyên Hải ( source: https://batchanhdao.wordpress.com/ )

 (Xin trích dẫn nguồn khi copy từ web site này)

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: