RSS

THỰC HƯ VỀ CÂU CHUYỆN NIÊM HOA VI TIẾU CỦA THIỀN TÔNG

05 Aug

Tôi đọc trong các kinh lớn của Đại Thừa lẫn Nguyên Thủy tôi không hề tìm ra được ở đâu có ghi câu chuyện NIÊM HOA VI TIẾU. Câu chuyện này mang nặng tinh thần “phong kiến” và “dấu nghề” của Trung Hoa.

ĐẠO TRÍ TUỆ của Phật không thể có cái tinh thần truyền thừa như thế. Đã là ĐẠO TRÍ TUỆ thì phải như KHOA HỌC, khi lý thuyết đã trình bày ra đầy đủ, thì bất cứ ai, ở bất cứ phương trời góc bể nào, đều có thể theo đó mà trở thành bác học một cách bình đẳng như nhau.

Đó chính là lý do Đức Phật đã nhấn mạnh: “Các con tự thắp đuốc lên mà đi với chánh pháp, không nương tựa vào một ai khác”. Trong đoạn kinh sau đây Đức Phật còn khẳng định rằng: Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta”. Như vậy thì làm sao có chuyện ngài trao lại y bát cho ai làm giáo chủ.

25. Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda, Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy).

Này Ananda, những ai nghĩ rằng: “Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo”; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai” thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo.

Này Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: “Ta là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo; hay “chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta” thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?

Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng.

Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.

26. Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.

Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ… đối với tâm… đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. (Phật nhắc lại pháp TỨ NIỆM XỨ)

Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.

Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.

(Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, tụng phẩm II, thuộc Trường Bộ Kinh)

Cho nên đối với tôi, câu chuyện NIÊM HOA VI TIẾU của người TÀU là một câu chuyện lừa bịp để cho phật tử Á châu đều qui ngưỡng về TÀU. Câu chuyện muốn chứng tỏ rằng “Giáo Pháp nhãn tạng” của Phật đã được rinh hết về TÀU. Đó cũng do cái tinh thần bá quyền muốn dùng tôn giáo như một “sức mạnh mềm” để chinh phục thiên hạ. Các đế quốc Tây phương cũng đã xử dụng Kitô giáo để đi xâm lăng các thuộc địa cũng cùng một chiến thuật như vậy.

Nói tóm lại, đạo Phật là ĐẠO TRÍ TUỆ mở rộng ra cho tất cả chúng sanh (mà Đức Phật gọi là bàn tay ngữa) chứ không phải là một môn phái võ lâm mà có sự truyền thừa. Biết đâu để chấm dứt tệ nạn này mà LỤC TỔ đã ra đời để chấm dứt sự truyền y bát của Thiền Tông? Để ý rằng LỤC TỔ không chứng đạo từ NGỦ TỔ mà ngài đã chứng đạo trước rồi (qua kinh Kim Cang), trước khi đến với NGỦ TỔ để nhận y bát, rồi sau đó chấm dứt sự trao truyền.

Ngoài ra qua đoạn kinh trên ta thấy Đức Phật còn giảng rõ ra thế nào là làm ngọn đèn cho chính mình? Thế nào là nương tựa chính mình?

— Đó chính là sự thực hành TỨ NIỆM XỨ để tìm hiểu chính mình bằng các pháp khảo sát: Quán THÂN, quán THỌ, quán TÂM, quán PHÁP.

Trong kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN của Phật giáo ĐẠI THỪA ta cũng thấy Đức Phật trả lời ngài A NAN về sự nương tựa pháp TỨ NIỆM XỨ mà tu hành sau khi Phật diệt độ như thế. Đó là pháp THIỀN độc nhất mà Phật đã dạy đi dạy lại. Chứ Phật chưa hề dạy pháp VÔ NIỆM như Thiền tông  Trung hoa hồi nào cả.

TỨ NIỆM XỨ là pháp thiền để hiểu rõ, để hiểu sâu, và để khám phá thực tướng VÔ NGÃ của chính mình. Nếu không hiểu rõ mình thì còn lâu mới có thể sửa đổi, mới có thể nhổ sạch gốc cội vô minh chấp ngã, gây nên khổ đau cho mình.

Không thể nào có một bậc giác ngộ mà không hiểu rõ về chính mình.

Tiến trình tu hành của Đức Phật chẳng qua cũng là một công trình miệt mài liên tục về sự tìm hiểu chính mình. Ngày ngài thành đạo ngài đã tâm sự như sau:

153. Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.

154. Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Người không làm nhà nữa.
Ðòn tay ngươi bị gẫy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.

(Kinh Pháp Cú)

Cho nên, phải hiểu rõ chính mình trước khi nói đến giác ngộ. Mà muốn hiểu rõ chính mình thì phải quan sát, phải khảo sát chính mình bằng các pháp quán của TỨ NIỆM XỨ. Đó cũng chính là pháp “chiếu kiến ngũ uẩn” của BÁT NHÃ.

Do đó khởi đầu kinh TỨ NIỆM XỨ Phật đã nhấn mạnh:

— Này các Tỷ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Như vậy con đường tu hành mà Phật đã chỉ ra thật rất rõ ràng và minh bạch. Không ai có thể trách Phật còn mơ hồ. Khi Đức Phật đã xác định là “con đường độc nhất” thì có nghĩa rằng đừng đi lang bang bằng các con đường khác. Người ta có thể ra đi từ vạn nẻo đường khác nhau (tùy căn cơ), nhưng đoạn đường cuối để đi đến đích thì ai cũng phải đi qua TỨ NIỆM XỨ để thành tựu CHÁNH TRÍ, để chứng ngộ BÁT NHÃ, để đạt đến NIẾT BÀN.

Tôi có bằng cớ nhiều vị Thiền sư Trung Hoa chưa chứng được BÁT NHÃ. Thật vậy, chính vì chưa chứng được BÁT NHÃ cho nên các ngài đã hiểu lầm ý nghĩa BÁT NHÃ mà kết án tâm PHÂN BIỆT, rồi đưa ra pháp thiền VÔ NIỆM, khác với CHÁNH NIỆM của PHẬT. Thử hỏi rằng một bậc tu hành, khi đạt được sự giác ngộ, có biết mình đã giác ngộ không?  Nếu biết, thì không thể VÔ NIỆM. Nếu không biết, thì vẫn còn VÔ MINH.

Cho nên, phải biết rằng khả năng PHÂN BIỆT là một khả năng của TRÍ GIÁC. Nếu không có khả năng phân biệt thì làm sao có thể biết mình đã GIÁC NGỘ, đã ra khỏi VÔ MINH? Nhân loại nếu không có khả năng phân biệt ĐÚNG và SAI thì làm sao có sự tiến hóa cao hơn? Không lẽ Đạo Phật lại phản tiến hóa, phản khoa học sao? Chỉ có những kẻ bị hôn mê, trí óc đờ đẫn mới không còn khả năng phân biệt mà thôi.

Thân ái,

GS001.

 
1 Comment

Posted by on August 5, 2012 in Thiền Luận

 

One response to “THỰC HƯ VỀ CÂU CHUYỆN NIÊM HOA VI TIẾU CỦA THIỀN TÔNG

  1. phuocphant

    August 14, 2012 at 5:06 pm

    Tu THIỀN TÔNG liệu có giác ngộ không?

    Đây là một câu hỏi lớn cần phải được trình bày rõ ràng và có hệ thống, cũng như phải minh họa thực tế. Điều này cần phải nói rất nhiều, có rất nhiều điều tế nhị kinh khủng. Ở đây, Bần sinh không có ý phỉ báng thiền tông hay pháp tu nào cả. Bần sinh vì SỰ THẬT mà nói, nếu các vị không hài lòng thì các vị phải biết mình đang rời xa CHÁNH PHÁP của Phật đó. Tu học thì chúng ta phải dựa vào SỰ THẬT chứ không dựa vào NIỀM TIN. Niềm tin có lý trí cũng không giá trị bằng SỰ THẬT.

    Bần sinh sẽ cung cấp vài gợi ý để quí Thánh nhân tương lai suy nghĩ và mổ xẻ thêm. Đối với các đạo hữu mới học Phật thì có lẽ những điều sau đây họ sẽ khó hiểu. Vì vậy nếu các vị chưa hiểu thì hãy hỏi thăm ở những người có hiểu biết về các vấn đề liên quan.

    1) Thiền tông chỉ là pháp tu Thiền Định. Cái mà thiền tông đề xướng là pháp thiền VÔ NIỆM, để rồi cưỡng cầu cái VÔ PHÂN BIỆT. Phải lưu ý rằng khi chúng ta NIỆM liên tục thì sẽ sinh ĐỊNH. Vô Niệm thật ra là NIỆM CÁI VÔ NIỆM. Phải nhớ rằng tâm thức của ta luôn luôn thay đổi, niệm khởi sinh liên tục cho đến lúc chết. Vô Niệm đó là phương pháp làm cho niệm tưởng không sinh khởi. Điều này là không thể thực hiện được. Phải biết rằng các trạng thái tâm lý của ta luôn trôi chảy, không thể ép nó ngưng lại được. Hành giả nào hành Vô Niệm thì chỉ có thể làm tạm lắng diệu tâm thức một thời gian. Rồi sau đó niệm vẫn phải sinh khởi theo luật duyên sinh của nó (nếu không thì hành giả tái sinh thành bé trai bé gái rồi, và cho dù là bào thai thì niệm của thai tử vẫn phát sinh). Ngay cả khi ta lắng diệu tâm thức 1 thời gian thì ngay trạng thái lắng diệu đó, thì các trạng thái tâm vẫn đang sinh sôi, nẩy nở nhưng ở mức rất vi tế, nhỏ nhiệm, người hành Định không thể nhận ra được. Không phải chỉ dân Thiền tông mà hầu hết các loại thiền khác (trong Phật giáo hay ngoài Phật Giáo) đều bị kẹt vào Thọ Tưởng, khi Định sinh thì hỷ lạc, an tịnh phát sinh. Rồi nhằm tưởng rằng mình đã giác ngộ.

    Về Chánh Định là Định giúp chúng ta xuôi về Niêt Bàn. Theo ý nghĩa này thì thiền định là một sự hỗ trợ đắc lực cho phát triển tuệ nhưng tuyệt đối không phải là pháp thiền để chứng đạo quả. Tứ thiền là mức định rất đáng mong cầu để hỗ trợ cho Quán Sát Thân Tâm (Tứ Niệm Xứ) và đi đến giác ngộ. Trên thực tế, thì đa số thường quanh quẩn trong Cận Định của sơ thiền. Được ở mức này cũng là đáng quí và có thể đi ngay vào Tứ Niệm Xứ. Các hành giả khác không tu theo hệ thống Tứ Thiền cũng không mất mát những công phu thiền định của mình, họ có thể đi vào Tứ Niệm Xứ. Thậm chí đi ngay vào Tứ Niệm Xứ mà không cần qua hệ thống loại thiền nào cả vì Tứ Niệm Xứ có Chánh Định. Định của Tứ Niệm Xứ là loại Định liên tục bất kể Thân Khẩu Ý có ra sao và là loại Định duy nhất để chứ ng đắc Thánh đạo.

    2) Chuyện tức khắc thành Phật là chuyên tham ái: đây là 1 chuyện hoang đường chưa từng có, những kiểu như tức khắc giác ngộ, pháp tu cao siêu tu nhanh giác ngộ v.v…đều là do những tư tưởng tham ái sinh ra. Phải nhớ rằng thành Phật là một chuyện ĐẠI NHÂN DUYÊN. Không chỉ dân thiền tông bị tư tưởng này chi phối mà hầu hết những MINH SƯ ngu ngốc càng ngày càng xuất hiện nhiều từ xưa cho đến nay.

    “Ở đâu không có Bát Chánh Đạo ở đó không có Thánh nhân”. Bần sinh dạo chơi trong Kinh Điển thì thấy Đức Thế Tôn luôn luôn nhấn mạnh ở điểm này bằng cách này hay cách khác. Ý là sao? Đức Thế Tôn không dạy cho chúng ta thành Phật, ngài dạy cho chúng ta về SỰ DIỆT KHỔ, và khi chúng ta “diệt khổ” xong rồi thì chuyện Thánh, Phật là chuyên phải xảy ra, nó cũng như việc chúng ta hăng say lao động thì sẽ được hưởng lương. Bởi vì không có vị Thánh nào mà tuyên bố:”Ta đau khổ”.

    Do vậy, phải nhớ rằng Bát Chánh Đạo là cứu cánh DUY NHẤT. Nói như vậy để thấy rằng CHÁNH NIỆM là pháp thiền duy nhất để DIỆT KHỔ chứ không phải Vô Niệm. Đừng bao giờ NGU NGỐC, U MÊ, ĐÂN ĐỒN cho rằng người đời sau (bất kỳ vị thầy nào) mà hơn Đức Thế Tôn. Cho nên, đừng bao giờ SÁNG TẠO ra pháp tu. Phải khôn ngoan mà lựa chọn pháp tu thuần khiết của Đức Phật, đừng lựa chọn pháp tu nào khác dù bất kể vị ấy là như thế nào.

    Khi chúng ta hành Chánh niệm (Tứ Niệm Xứ) thì đó là lúc chúng ta SOI vào Thân Tâm của chúng ta để hiểu thấu bản chất của nó, hiểu thấu bản chất Vô Thường, Khổ, Vô Ngã của nó.Ở pháp Chánh Niệm, chúng ta không hề cưỡng ép niệm, niệm muốn sinh thì sinh, tùy chúng, chúng ra sao cũng được. Chúng sinh ra và diệt đi là do bản chất duyên sinh, làm sao mà cưỡng ép được nào. Do vậy, có thể nói rằng: Không thể diệt khổ nếu không thể hiểu bản chất của đau khổ. Pháp chánh niệm không trốn tránh Đau Khổ, cũng không trốn tránh Sự An Lạc, sung sướng, chỉ quan sát một cách khách quan mà trực nhận bản chất của mọi trạng thái thân tâm. Cho nên, có thể nói: Không thể có vị Thánh nhân nào mà vị ấy không hiểu rõ bản chất Thân Tâm của mình.

    3) Giả tưởng, cưỡng ép mình là Thánh rồi tu theo như kết quả đó:

    Phải biết rằng ta là một tên phàm nhân thực thụ chứ không phải là Thánh. Ta không tu đúng chánh pháp thì làm sao mà là Thánh cho được? Đừng bắt chước tâm siêu thế của Thánh nhân mà Vô Phân Biệt các pháp. Rồi chế biến, xào nấu ra pháp tu Vô Niệm hay câu thông Niết Bàn, liên lạc Thượng Đế. Đối với kẻ phàm phu nếu ép tâm mình Vô Phân Biệt thì đã rơi vào cái gọi là “Phân Biệt cái Vô Phân Biệt”. Cái tâm Thánh Nhân là cái Tâm Vô Phân Biệt thật, tức là không phân biệt Thiện, Ác, Thánh, Phàm. Ngài sống một cách an nhiên tự tại với một cái tâm bình đẳng với mọi pháp (ngài không hề cưỡng cầu cái tâm ngài như vậy, mà cái tâm ngài nó tự nhiên như vậy). Cho dù các pháp biến hiện ra sau, ngài sống như không sống, không sống mà như sống. Đau khổ không hề ảnh hưởng đến ngài. Còn các vị bắt chước Thánh nhân mà sống như vậy thì đó là cái tâm vô phân biệt giả.

    Nếu các vị đã chứng nghiệm được Đạo Quả (xin nhấn mạnh đã chứng đạo) thì các vị sẽ thấy rằng: Tứ Diệu Đế = Không Tứ Diệu Đế. Tức là sao? Khổ = Vô Khổ, Tập = Vô Tập, Diệt = Vô Diệt, Đạo = Vô Đạo. Đây là kết quả trực nhận được của tâm siêu thế mà Đại Thừa gọi là Phật Tánh hay Tiểu Thừa gọi là Tuệ Giác. Tức là khi ta đã chứng đạo rồi thì ta không còn cần đến Tứ Diệu Đế nữa nhưng đối với kẻ phàm phu thì phải tu theo Tứ Diệu Đế, phải có Khổ, Tập, Diệt, Đạo chứ không thể ép tâm mình thành Vô Khổ, Vô Tập, Vô Diệt, Vô Đạo được

    Nếu không nghe lời bần sinh mà còn tu theo những pháp tu xa rời Đạo (Bát Chánh Đạo) thì các vị Thánh nhân tương lai ơi: luân hồi, đau khổ sẽ dạy quí vị. Quí vị có biết không, khi tử tâm sinh khởi thì không biết chắc quí vị sẽ rơi vào khổ cảnh nào cho dù quí vị tu hành cả đời, là vị thầy nổi tiếng khắp thiên hạ.

    4) Bát Chánh Đạo là vua đạo trong các loại đạo, vua pháp môn trong 84.000 pháp môn.

    Chuyện 84000 pháp môn là chuyện của những kẻ tham ái, của những đạo sư và học trò còn tham ái tràn trề. Phải biết rằng Đức Phật không hề dạy pháp môn nào ngoài Bát Chánh Đạo, bất kỳ ai mà được cho là không điên, không khùng đều có thể thực hành Bát Chánh Đạo để Diệt Khổ (chứng nghiệm Niết Bàn), không cần họ có bằng cấp nào, địa vị nào, dân tộc nào. Đức Phật không hề giảng dạy cao xa, uyên thâm gì hết, hay là giảng dạy cho riêng ai điều gì. Cái mà ta không hiểu thấu lời ngài là do tham ái quá sâu dày mà thôi. Đạo Phật là Đạo Diệt Khổ. Hạnh phúc sẽ phát sinh khi ta Diệt Khổ, khổ diệt được bao nhiêu thì hạnh phúc được bấy nhiêu. Chúng ta tu thì chúng ta phải biết đau khổ và hạnh phúc như những người khách viếng thăm ngôi nhà Thân Tâm. Họ đến họ đi tùy họ. Hiểu không? Đừng bao giờ u mê lúc tu theo kiểu này, lúc tu theo kiểu kia, pha trộn pháp tu của những kẻ phàm đẻ ra.

    Bần sinh cũng muốn nói thêm về Kinh Điển: Đại Thừa, Tiểu Thừa, Mật Thừa, Hiển Thừa, Nhị Thừa, Nhất Thừa, Phật Thừa v.v…Nếu các vị còn có cái tâm THỪA nào đó thì có ngày các vị trở thành TỐI THUI THỪA hay là THỐI THƯỢNG THỪA. Bần sinh có tên gọi mới cho quí vị theo để khỏi uổng phí công lao Phật đã dạy. Hãy theo BÁT CHÁNH ĐẠO THỪA. Nói điều này để quí vị biết Tu là Tu, Hành là Hành chứ đừng đẻ chữ đẻ nghĩa để sa lầy vào cái mà Bần sinh quan sát thấy khắp nơi dính vào gọi là MINH TRIẾT THAM ÁI.

    Do vậy đối với tất cả các loại Kinh, quí vị đừng tốn sức chê Kinh này, khen Kinh nọ hoặc phỉ báng lối tu của nhau. Hãy khôn ngoan mà “kết hôn” với Bát Chánh Đạo. Đọc Kinh, Luật, Luận, quí vị nên chiếu nó vào Bát Chánh Đạo, nghĩa là “những kiến thức đó bổ sung gì cho cái hiểu của ta về Bát Chánh Đạo”. Để rồi ta thực hành chuyên tâm vào Bát Chánh Đạo.

    PHUOCPHANT

    P/S:

    Nếu quí vị nào đọc những lời của Bần sinh mà thấy thích thì bần sinh xin chúc mừng vị đó. Bần sinh sẽ tôn làm thầy, tương lai quí vị có khả năng làm thầy của Bần sinh.

    Nếu Thánh nhân tương lai nào mà đọc lời Bần sinh mà nổi giận thì phải biết rằng mình đang là ai? Hãy thành thật. Một phàm nhân 100%. Một vị phàm nhân đang tu theo pháp tu Tham Ái. Bần sinh thương lắm!

    Bần sinh nói ra điều này để biết rằng bần sinh có khả năng hiểu thấu tâm ý của quí đọc giả. Những gì bần sinh nói ra không phải là của bần sinh. Nếu cãi là bần sinh đã nói thì quí vị phải biết quí vị chưa hiểu giáo pháp Diệt Khổ.

    Tình thương và hạnh phúc vô điều kiện sẽ đến quí vị.

     

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: